Cây làng Nam Bộ khác Bắc Bộ vì làng ở đây mọc dọc theo sông rạch, trên giồng đất, không có luỹ tre bao quanh: cây đa (người Nam gọi là cây da) đứng ở bến đò, đầu xóm, sân đình; cây gừa giữ bờ kênh; cây bần mọc ở mé nước lợ, đêm có đom đóm; những hàng dầu cổ thụ làm mốc trên giồng. Mỗi cây gắn với một kiểu đời sống sông nước.
Bài này đi qua những cây làng quen nhất của Nam Bộ: vì sao chúng đứng ở chỗ ấy, người xóm dùng chúng vào việc gì, những tên đất mang tên cây, và tín ngưỡng nhỏ quanh gốc cây như miễu, như chỗ thờ ông Tà của người Khmer. Cuối bài có bảng đối chiếu cây làng hai miền để thấy cùng một vai trò mà mỗi vùng chọn một loài cây khác.
Làng Nam Bộ khác làng Bắc Bộ, nên cây làng cũng khác
Làng đồng bằng Bắc Bộ thường là một khối nhà ở quây quần, bao quanh bằng luỹ tre, có cổng làng, đầu làng, đình ở trung tâm. Làng Nam Bộ, nhất là vùng sông nước miền Tây, phần nhiều trải dài dọc theo con kênh, con rạch hay trên một giồng đất cao, nhà nối nhà theo chiều dài, ít có ranh giới khép kín. Người ta đi lại bằng ghe xuồng nhiều không kém đi bộ, nên những điểm hẹn của xóm thường là bến sông, ngã ba kênh, chợ nổi, chợ ven sông.
Từ đó, chỗ đứng của cây làng cũng đổi. Không có "đầu làng" theo kiểu Bắc Bộ, cây lớn của xóm hay đứng ở bến đò, đầu vàm, bên miễu, trong sân đình hoặc ngay mé sông. Cây phải chịu được đất phèn, đất lợ, mùa nước nổi, nên những loài quen ở đây như gừa, bần, dừa nước, tràm khác hẳn danh sách cây làng Bắc Bộ.
Điều giống nhau là vai trò: cây lớn vẫn là chỗ nghỉ chân, chỗ hẹn, cái mốc để người đi ghe nhận ra mình sắp về tới xóm, và dần dần mang lớp nghĩa thiêng. Hiểu điểm giống và khác này giúp tránh việc lấy hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình" của Bắc Bộ áp nguyên cho mọi làng Việt.
Cây da: cây đa trong giọng Nam
Cây da trong cách gọi của người Nam Bộ chính là cây đa. Cây da lớn hay đứng ở bến đò, đầu xóm, trước miễu, trong sân đình, và cũng như ở Bắc, nó là chỗ trú nắng, chỗ ngồi chờ đò, chỗ hẹn. Nhiều miễu nhỏ thờ thần, thờ Bà được dựng ngay dưới gốc da, nên với không ít người, cây da và cái miễu là một hình ảnh liền nhau.
Người Nam Bộ có thói quen lấy cây lớn làm tên cho chỗ đất: gọi chỗ có cây da lớn là "cây da", chỗ có cây gòn là "cây gòn", rồi lâu dần cái tên ấy thành tên xóm, tên chợ, tên bến. Nhiều địa danh ở Nam Bộ mang tên cây, như Cây Gõ ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy cây lớn từng là mốc định vị quan trọng thế nào khi chưa có số nhà, bảng tên đường. Cây gốc có khi đã mất từ lâu, cái tên vẫn ở lại.
Lời kiêng trồng da gần nhà ở cũng có ở Nam Bộ, với lý do thực tế giống Bắc Bộ: cây lớn nhanh, rễ phá nền, phá thềm, tán rợp làm ẩm. Vì vậy cây da hay được để ở chỗ chung, bến sông, sân miễu hơn là trong sân nhà.
Cây gừa: cây giữ bờ kênh rạch
Cây của mé nước. Gừa là một loài cây chi Ficus rất quen ở miền Tây, mọc ven kênh, rạch, ven sông, bờ ao. Rễ phụ nhiều, buông xuống bờ, có rễ cắm thẳng xuống nước.
Giữ bờ. Bờ kênh rạch miền Tây là đất bồi mềm, sóng ghe xuồng và nước lên xuống mỗi ngày làm bờ dễ lở. Rễ gừa chằng chịt đan vào bờ đất như một tấm lưới, giữ đất lại. Nhiều nhà ven sông giữ cây gừa trước nhà vì lẽ đó.
Chỗ đậu ghe, chỗ trú nắng. Tán gừa nghiêng ra mặt kênh cho bóng mát; người đi ghe hay ghé vào gốc gừa nghỉ trưa, buộc ghe vào rễ gừa.
Chỗ cá trú. Rễ gừa dưới nước là chỗ cá con, tôm tép ẩn nấp. Mùa nước nổi, gốc gừa ngập sâu, người ta đặt lờ, đặt lọp quanh đó.
Dễ nhầm với si, sanh. Cây gừa có lá nhỏ, bóng, rễ buông như rèm, rất giống cây si ở Bắc. Tên gọi giữa các vùng lẫn vào nhau, nên khi viết về một cây cụ thể, dùng đúng tên người địa phương gọi là cách an toàn.
Khi bờ được kè. Nhiều đoạn kênh rạch nay được kè bê tông, cây gừa ven bờ bị chặt để thi công. Ở những chỗ còn giữ được, người xóm thường quý cây gừa như một phần của bến nhà mình; muốn tỉa hay hạ cây gừa lớn bên bờ công cộng thì hỏi chính quyền xã trước.
Cây bần, đom đóm và mắm bần
Cây bần mọc ở vùng nước lợ, ven sông lớn gần cửa biển, bãi bồi, mép rừng ngập mặn. Đặc điểm dễ nhận nhất là bộ rễ thở: từ rễ dưới bùn mọc ngược lên những cọc rễ nhọn nhô khỏi mặt bùn, giúp cây lấy không khí khi đất ngập nước. Cây bần già có tán rộng, cành nghiêng ra mặt sông, quả tròn dẹt, có đài như cái tai.
Hình ảnh đom đóm đậu cây bần là một trong những hình ảnh đêm quen thuộc của miền Tây sông nước. Những đêm không trăng, đom đóm tụ trên tán bần ven sông, lập loè như những chùm đèn nhỏ, người đi ghe đêm nhìn thấy từ xa. Hình ảnh này đi vào câu hò, lời kể của nhiều người lớn lên ở miệt vườn, như một phần của ký ức quê nhà.
Quả bần chua, được người miền Tây dùng làm món ăn: nấu canh chua, làm mắm bần, chấm muối ớt, mỗi vùng mỗi cách. Rừng bần ven sông cũng là chỗ giữ bãi bồi, chắn sóng cho bờ. Ở nhiều nơi, những hàng bần ven sông đã thưa đi vì kè bờ, san lấp; giữ lại một dải bần là giữ cả cảnh quan, cả bờ sông, cả những đêm đom đóm cho con cháu.
Cây dầu, cây sao: hàng cổ thụ trên giồng đất
Trên những giồng đất cao, quanh đình, chùa, chợ và dọc đường cũ ở Nam Bộ, người ta hay gặp những hàng dầu, hàng sao cao vút. Một vài điều về nhóm cây này:
- Cây cao làm mốc. Dầu và sao là cây gỗ lớn, thân thẳng, tán cao, nhìn thấy từ rất xa trên vùng đất bằng. Hàng dầu cổ thụ dọc đường cũ là dấu vết của những tuyến đường, những khu dân cư đã có từ lâu.
- Dầu rái trét ghe. Nhựa dầu lấy từ cây dầu, gọi là dầu rái, xưa được dùng để trét ghe, trét thuyền, chống thấm cho mạn gỗ. Đây là một nghề gắn chặt với đời sống sông nước.
- Gỗ dùng cho nghề sông nước. Gỗ của một số cây trong nhóm này từng được dùng đóng ghe, làm nhà, làm cột; việc khai thác ngày nay đã chịu quy định chặt chẽ.
- Chỗ đứng quanh nơi thờ tự. Hàng dầu, hàng sao cao quanh đình, chùa, đặc biệt ở chùa của người Khmer Nam Bộ, là cảnh rất quen; câu chuyện cây ở nơi thờ tự là một chủ đề riêng.
- Quả có cánh. Quả dầu, quả sao có cánh, khi rụng xoay tròn trong gió; trẻ con miền Nam nhiều thế hệ đã nhặt quả dầu thả cho xoay như chong chóng.
Những cây dầu, cây sao già là tài sản chung của cộng đồng; mọi việc tỉa, chặt cây lớn ở nơi công cộng cần hỏi chính quyền và đơn vị quản lý cây xanh địa phương.
Miễu dưới gốc cây và chỗ thờ ông Tà
Ở Nam Bộ, một tục quen là dựng miễu nhỏ dưới gốc cây lớn: miễu thờ thần đất, thờ Bà, thờ những vị mà người xóm tin là phù hộ cho xóm. Cây và miễu đi với nhau: cây cho bóng mát, cái miễu cho người đi đường một chỗ dừng lại thắp nén nhang. Mỗi miễu có tục riêng, người ngoài nên hỏi người trong xóm trước khi làm gì ở đó.
Với người Khmer Nam Bộ, có tục thờ Neak Ta, người Việt quen gọi là ông Tà, thường là một chỗ thờ đơn sơ dưới gốc cây lớn, ở đầu phum sóc hoặc ven ruộng. Theo các ghi chép về văn hoá Khmer, ông Tà được coi là vị thần bảo hộ đất đai, phum sóc. Đây là tín ngưỡng của cộng đồng, nên khi đi qua những chỗ thờ như vậy, người ngoài giữ sự tôn trọng: không leo trèo, không xê dịch đồ thờ, không chụp ảnh cận khi người trong phum đang cúng.
Phần thần linh được thờ là chủ đề riêng; điều đáng chú ý ở đây là cách cây lớn trở thành cái nền cho một không gian thờ nhỏ của cộng đồng, giống cây đa có bát hương ở làng Bắc Bộ. Cùng một mô hình, mỗi vùng mỗi dân tộc khoác lên đó một lớp tín ngưỡng của mình.
Cây làng hai miền: cùng vai trò, khác loài cây
Bảng dưới đặt cạnh nhau những cây quen của làng Bắc Bộ và xóm Nam Bộ theo vai trò. Đây là cách đối chiếu khái quát; trong thực tế mỗi làng, mỗi xóm có cảnh riêng.
| Vai trò | Làng Bắc Bộ | Xóm Nam Bộ |
|---|---|---|
| Cây lớn làm mốc, chỗ hẹn | Cây đa đầu làng, cây gạo giữa đồng | Cây da bến đò, hàng dầu trên giồng |
| Cây giữ bờ nước | Cây si, cây sung bên ao | Cây gừa ven rạch, cây bần mé sông |
| Hàng rào, ranh giới | Luỹ tre bao quanh làng | Hàng dừa, dừa nước, mương vườn |
| Cây cho bông nhồi gối | Cây gạo | Cây gòn |
| Cây gắn với không gian thờ nhỏ | Gốc đa có bát hương, miếu | Miễu dưới gốc da, chỗ thờ ông Tà dưới cây lớn |
| Cảnh đêm quen thuộc | Gốc đa, gốc gạo trong chuyện kể | Đom đóm trên cây bần ven sông |
Đặt cạnh nhau như vậy, có thể thấy cây làng là lời đáp của mỗi vùng cho cùng những nhu cầu: có mốc, có bóng mát, giữ được đất, có chỗ cho niềm tin của cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
Cây da ở miền Nam có phải cây đa không?
Đúng vậy. "Cây da" là cách người Nam Bộ gọi cây đa, do khác biệt trong cách phát âm giữa các vùng. Cây da cũng đứng ở bến đò, đầu xóm, sân đình, bên miễu, với vai trò tương tự cây đa ở làng Bắc Bộ.
Cây gừa khác cây si thế nào?
Hai cây rất giống nhau: cùng chi Ficus, lá nhỏ bóng, rễ phụ buông nhiều, ưa mé nước. Tên gọi khác nhau chủ yếu theo vùng, và tên dân gian không trùng khít với tên khoa học. Muốn biết chính xác loài của một cây cụ thể, nên nhờ người làm thực vật xem lá, quả.
Vì sao cây bần có những cọc rễ nhô lên khỏi bùn?
Đó là rễ thở. Cây bần sống ở đất bùn ngập nước, thiếu không khí; những cọc rễ mọc ngược lên khỏi mặt bùn giúp rễ lấy được không khí khi nước rút. Đây là đặc điểm chung của nhiều cây vùng ngập mặn, ngập lợ.
Dầu rái là gì?
Dầu rái là nhựa lấy từ cây dầu, xưa được người Nam Bộ dùng để trét ghe, trét thuyền, chống thấm cho mạn gỗ. Nghề lấy dầu rái và trét ghe gắn với đời sống sông nước. Việc khai thác cây rừng ngày nay chịu quy định, không tự ý lấy nhựa cây công cộng.
Đi qua chỗ thờ ông Tà dưới gốc cây cần lưu ý gì?
Giữ sự tôn trọng như với mọi nơi thờ của cộng đồng: không leo trèo, không xê dịch đồ thờ, không xả rác, không chụp ảnh cận khi người trong phum đang cúng. Muốn tìm hiểu thì hỏi người trong phum sóc hoặc các vị sư ở chùa Khmer gần đó.
Vì sao nhiều địa danh Nam Bộ mang tên cây?
Khi chưa có số nhà, bảng tên đường, người ta lấy cây lớn dễ thấy làm mốc gọi chỗ: chỗ có cây da, cây gòn, cây gõ. Lâu dần cái tên thành tên xóm, tên chợ, tên bến, kể cả khi cây gốc đã mất. Đây là dấu vết của thời cây lớn là cái mốc định vị chính của người đi ghe, đi bộ.