Rừng cộng đồng là khu rừng do cả một thôn, bản, buôn, làng cùng quản lý, bảo vệ và hưởng lợi, thay vì thuộc về một hộ hay một đơn vị nhà nước. Ở Việt Nam, cộng đồng dân cư thôn được pháp luật về rừng công nhận là một đối tượng được giao rừng, và trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 là một loại chủ rừng. Nhiều khu rừng cộng đồng hôm nay chính là rừng thiêng, rừng đầu nguồn mà bản làng đã giữ theo tập quán từ lâu.
Bài này giải thích ở mức dễ hiểu: rừng cộng đồng là gì, cộng đồng có quyền và trách nhiệm gì, quy ước bảo vệ rừng của thôn thường gồm những nội dung nào, và làm sao để những điều cấm truyền thống, lễ cúng rừng, vai trò của già làng đi vào quy ước một cách hợp pháp. Quy định cụ thể thay đổi theo thời gian; khi cần áp dụng, hãy hỏi kiểm lâm địa bàn và chính quyền xã.
Từ rừng của bản theo tập quán tới rừng cộng đồng theo luật
Từ trước khi có luật thành văn, nhiều bản làng đã có những khu rừng của chung: rừng thiêng để cúng, rừng ma để chôn cất, rừng đầu nguồn để giữ nước, rừng để lấy gỗ làm nhà, lấy măng, lấy củi. Việc dùng những khu rừng ấy do luật tục và tập quán điều chỉnh, có già làng, có người giữ rừng, có lễ hằng năm.
Trong nhiều năm, những khu rừng này không có chỗ đứng rõ ràng về pháp lý. Từ Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, cộng đồng dân cư thôn được công nhận là đối tượng có thể được Nhà nước giao rừng. Luật Lâm nghiệp năm 2017 tiếp tục ghi nhận cộng đồng dân cư là một loại chủ rừng, có quyền và nghĩa vụ riêng. Đây là bước quan trọng để những khu rừng giữ theo tập quán có thể được giao chính thức cho chính cộng đồng đã giữ chúng.
Tuy vậy, không phải khu rừng truyền thống nào cũng đã được giao. Có nơi rừng thiêng của bản nằm trong ranh giới của ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hay công ty lâm nghiệp. Khi ấy, cộng đồng có thể tham gia bảo vệ qua hợp đồng khoán, qua thoả thuận đồng quản lý, chứ không phải chủ rừng. Hỏi rõ khu rừng thuộc loại nào, ai là chủ, là việc đầu tiên khi tìm hiểu rừng cộng đồng ở một nơi cụ thể.
Cộng đồng giữ rừng được làm gì, phải làm gì
Quyền và nghĩa vụ cụ thể phụ thuộc loại rừng và quy định hiện hành. Những nét dưới đây là khung chung thường được nhắc trong các chương trình giao rừng cho cộng đồng:
- Bảo vệ rừng. Tổ chức tuần tra, ngăn chặn chặt phá, săn bắt trái phép, báo cho kiểm lâm và chính quyền khi phát hiện vi phạm.
- Phòng cháy rừng. Làm đường băng cản lửa, canh lửa mùa khô, nhắc các hộ khi đốt nương rẫy, tham gia chữa cháy.
- Hưởng lâm sản ngoài gỗ. Thu hái măng, rau rừng, mật ong, cây thuốc theo quy định, phần lớn để dùng trong gia đình và cộng đồng.
- Gỗ cho nhu cầu chung. Ở một số loại rừng và trong một số trường hợp, cộng đồng có thể được khai thác gỗ cho nhu cầu làm nhà, công trình chung, theo trình tự và có xác nhận.
- Nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ở các lưu vực có thuỷ điện, nhà máy nước, du lịch sử dụng dịch vụ môi trường rừng, cộng đồng giữ rừng có thể nhận một khoản chi trả theo diện tích.
- Xây dựng và thực hiện quy ước. Cộng đồng tự đặt ra quy ước bảo vệ rừng của thôn, trong khuôn khổ pháp luật, và tự giám sát việc thực hiện.
- Không được tự ý chuyển nhượng. Rừng giao cho cộng đồng là tài sản chung, không được chia cho từng hộ để bán, cho thuê, thế chấp theo kiểu tài sản riêng.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng bắt đầu thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La từ cuối thập niên 2000, sau đó mở rộng trên cả nước. Với nhiều thôn bản, đây là lần đầu việc giữ rừng mang lại một khoản thu đều đặn, dù không lớn.
Quy ước bảo vệ rừng của thôn thường có gì
Bảng dưới gom các phần thường gặp trong quy ước bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng thôn bản, và chỉ ra phần nào có gốc từ tập quán, luật tục.
| Phần của quy ước | Nội dung thường gặp | Gốc từ tập quán, luật tục |
|---|---|---|
| Ranh giới, phân khu | Mô tả ranh giới rừng của thôn, chia khu cấm, khu được dùng có kiểm soát | Ranh giới do già làng, người giữ đất chỉ dẫn; rừng thiêng, rừng đầu nguồn được để khu cấm |
| Những việc bị cấm | Chặt phá, đốt rừng, săn bắt, khai thác ở khu cấm, chăn thả trong rừng mới trồng | Điều cấm truyền thống với rừng thiêng, bến nước, rừng nghĩa địa |
| Việc được làm có điều kiện | Lấy củi khô, măng, rau, lấy gỗ làm nhà khi được thôn đồng ý và đúng thủ tục | Nếp xin phép người giữ rừng trước khi lấy |
| Tổ chức bảo vệ | Lập tổ tuần tra, phân lịch, phối hợp với kiểm lâm | Vai trò của người được giao giữ rừng |
| Xử lý vi phạm | Nhắc nhở, xin lỗi trước thôn, khắc phục hậu quả, báo cơ quan chức năng khi vượt thẩm quyền | Tinh thần hoà giải và khắc phục của luật tục |
| Hưởng lợi, chia sẻ | Cách chia khoản chi trả, lâm sản thu được, dành phần cho quỹ chung | Nếp chia phần trong cộng đồng |
| Sinh hoạt chung | Họp thôn định kỳ, lễ cúng rừng, ngày ra quân bảo vệ rừng | Lễ cúng rừng, cúng bến nước hằng năm |
Một nguyên tắc quan trọng: quy ước không được trái pháp luật. Những hình thức phạt nặng của luật tục xưa không thể giữ nguyên; quy ước chỉ đặt những biện pháp mà cộng đồng được phép áp dụng, phần còn lại chuyển cho cơ quan có thẩm quyền.
Một thôn xây dựng quy ước bảo vệ rừng thường đi qua những bước nào
Các bước dưới đây là trình tự hay được hướng dẫn trong các chương trình hỗ trợ cộng đồng giữ rừng. Từ tháng 7 năm 2025 không còn cấp huyện, nên việc công nhận quy ước và các thủ tục liên quan cần hỏi lại nơi tiếp nhận hiện hành ở xã, ở tỉnh.
- Họp thôn để thống nhất chủ trương, bầu nhóm soạn thảo gồm trưởng thôn, già làng, người có uy tín, đại diện phụ nữ và thanh niên.
- Cùng đi thực địa, ghi lại ranh giới rừng, các khu thiêng, khu đầu nguồn, khu dùng chung theo lời già làng và người giữ rừng.
- Ghi lại những điều cấm, những tập quán giữ rừng đang còn, những lễ liên quan tới rừng mà thôn muốn duy trì.
- Đối chiếu với quy định pháp luật về rừng, với sự hỗ trợ của kiểm lâm địa bàn, để loại bỏ hoặc điều chỉnh những điều không phù hợp.
- Soạn dự thảo bằng ngôn ngữ dễ hiểu, nếu cần có bản bằng tiếng dân tộc.
- Họp thôn lấy ý kiến, sửa đổi, biểu quyết thông qua.
- Trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, công nhận theo quy định hiện hành.
- Phổ biến tới từng hộ, dán ở nhà văn hoá, nhắc lại trong các dịp sinh hoạt chung, kể cả lễ cúng rừng.
- Rà soát định kỳ, sửa khi điều kiện thay đổi.
Khâu dễ bị bỏ qua nhất là bước ghi lại tập quán. Bỏ bước này, quy ước dễ thành bản sao của một mẫu chung, người dân không thấy mình trong đó và không có lý do để giữ.
Ví dụ giả định: một thôn nhận giữ khu rừng đầu nguồn
Để hình dung, hãy theo một ví dụ giả định. Một thôn vùng cao có khoảng tám mươi hộ, phía trên thôn là khu rừng mà các cụ vẫn gọi là rừng cấm, nơi mỗi năm thôn làm lễ cúng rừng và là nơi con suối cấp nước cho cả thôn bắt nguồn. Khu rừng chưa từng được giao cho ai về mặt giấy tờ; người ta giữ nó chỉ vì điều cấm từ đời trước.
Khi có chương trình giao rừng cho cộng đồng, thôn họp lại. Già làng cùng nhóm thanh niên đi một vòng, chỉ từng mốc ranh giới: khe đá này, cây lớn kia, sống núi nọ. Kiểm lâm địa bàn đi cùng, đánh dấu trên bản đồ. Thôn ghi vào quy ước: khu trên đầu nguồn là khu cấm tuyệt đối; khu thấp hơn được lấy củi khô, măng theo mùa; lễ cúng rừng giữ vào đầu năm như cũ, và sau lễ cả thôn đọc lại quy ước.
Thôn lập tổ bảo vệ gồm sáu người, chia lịch đi rừng mỗi tuần. Khoản chi trả dịch vụ môi trường rừng nhận được, thôn quyết định chia một phần cho các hộ, một phần cho tổ bảo vệ, một phần vào quỹ chung để lo lễ và sửa đường lên rừng. Mọi khoản đều đọc công khai trong buổi họp cuối năm.
Ví dụ trên đơn giản hơn thực tế nhiều, nhưng cho thấy cách tập quán và luật có thể đi cùng nhau: điều cấm cũ trở thành khu cấm trong quy ước, lễ cũ trở thành dịp nhắc quy ước, người giữ rừng theo tục trở thành tổ bảo vệ có tên trong hồ sơ.
Những chỗ hay vướng khi giữ rừng cộng đồng
Ranh giới là chỗ vướng đầu tiên. Ranh giới theo tập quán thường dựa vào khe suối, sống núi, cây mốc, trong khi ranh giới trên bản đồ hành chính có thể khác. Hai thôn cùng nhận một khu rừng là chuyện không hiếm. Giải quyết cần ngồi lại có cả già làng hai bên, không nên chỉ dựa vào bản đồ.
Thứ hai là người ngoài cộng đồng. Tổ tuần tra của thôn có thể nhắc nhở người trong thôn, nhưng gặp nhóm khai thác trái phép từ nơi khác tới thì không đủ sức và không đủ thẩm quyền. Phối hợp nhanh với kiểm lâm, công an xã là điều kiện để tổ tuần tra không bị bỏ mặc.
Thứ ba là lợi ích. Khoản chi trả cho việc giữ rừng thường nhỏ, chia đều thì mỗi hộ được rất ít. Nhiều thôn chọn để một phần vào quỹ chung, dùng làm đường, sửa nhà văn hoá, hỗ trợ lễ cúng rừng. Cách chia nào cũng cần minh bạch, công khai trước thôn.
Cuối cùng là con người. Người trẻ đi làm xa, già làng mất dần, phụ nữ ít có tiếng nói trong các cuộc họp. Một quy ước tốt cần có cơ chế để những nhóm này tham gia, nếu không, rừng cộng đồng chỉ còn trên giấy.
Câu hỏi thường gặp
Rừng cộng đồng là gì?
Rừng cộng đồng là khu rừng do cả một thôn, bản, buôn, làng cùng quản lý, bảo vệ và hưởng lợi. Theo pháp luật về rừng, cộng đồng dân cư thôn có thể được Nhà nước giao rừng, và trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 là một loại chủ rừng.
Rừng thiêng của bản có phải là rừng cộng đồng không?
Không nhất thiết. Rừng thiêng là rừng giữ theo tập quán; nó chỉ là rừng cộng đồng theo nghĩa pháp lý khi đã được giao chính thức cho cộng đồng. Có rừng thiêng nằm trong ranh giới của ban quản lý rừng khác, khi đó cộng đồng tham gia bảo vệ qua hình thức khác.
Quy ước bảo vệ rừng của thôn có được phạt tiền không?
Quy ước không được trái pháp luật. Các biện pháp thường là nhắc nhở, xin lỗi trước thôn, khắc phục hậu quả; vi phạm vượt thẩm quyền phải chuyển cho cơ quan chức năng xử lý. Mức xử lý cụ thể cần hỏi kiểm lâm và chính quyền xã theo quy định hiện hành.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là gì?
Đây là chính sách mà các đơn vị hưởng lợi từ rừng, như thuỷ điện, nhà máy nước, cơ sở du lịch, trả tiền cho người giữ rừng ở lưu vực. Cộng đồng được giao rừng hoặc nhận khoán bảo vệ có thể nhận khoản chi trả theo diện tích rừng được giữ.
Làm sao đưa tập quán giữ rừng vào quy ước của thôn?
Cách hay được dùng là ghi lại ranh giới, điều cấm, lễ cúng rừng theo lời già làng, sau đó đối chiếu với pháp luật cùng kiểm lâm, giữ phần phù hợp, điều chỉnh phần không phù hợp, rồi để cả thôn bàn và biểu quyết thông qua.
Hai thôn tranh chấp ranh giới rừng thì làm gì?
Nên tổ chức buổi làm việc có già làng, trưởng thôn hai bên, kiểm lâm và chính quyền xã, cùng đi thực địa đối chiếu ranh giới theo tập quán và theo hồ sơ giao rừng. Tránh để tranh chấp kéo dài vì rừng không ai giữ sẽ bị người ngoài khai thác.