Trong luật tục của người Ê Đê và người M'Nông ở Tây Nguyên, rừng, rẫy và bến nước là những thứ được nói tới nhiều; làm cháy rừng, lấn rẫy, chặt phá đầu nguồn, làm bẩn bến nước đều là lỗi phải đền và phải làm lễ tạ với cộng đồng. Những điều này ngày nay được nhiều chương trình bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng tìm đọc lại.
Bài này không giới thiệu luật tục nói chung, mà chỉ đi vào phần liên quan tới rừng: rừng thuộc về ai, những việc nào bị coi là sai, cách xử thường được mô tả, và phần nào đang được đưa vào quy ước giữ rừng hôm nay. Nội dung dựa trên các bản luật tục đã được sưu tầm, dịch và chú giải; câu chữ của từng điều luật không được trích ở đây vì bạn nên đọc thẳng từ bản đã xuất bản.
Luật tục về rừng được ghi lại từ đâu
Luật tục của các dân tộc Tây Nguyên vốn là lời truyền miệng, do già làng và những người xử kiện thuộc lòng, nói ra khi cần phân xử. Từ đầu thế kỷ hai mươi, một số người Pháp làm việc ở Tây Nguyên đã ghi chép luật tục Ê Đê. Về sau, các nhà dân tộc học Việt Nam tiếp tục sưu tầm, dịch, đối chiếu và chú giải luật tục của nhiều dân tộc, trong đó có Ê Đê và M'Nông; nhiều bản đã được xuất bản thành sách từ thập niên 1990.
Đọc các bản này cần nhớ hai điều. Một là luật tục khác nhau giữa các vùng, các buôn; bản in là bản đã được chọn lọc, sắp xếp lại, không phải toàn bộ luật tục của mọi nơi. Hai là luật tục được viết bằng lời có vần, nhiều hình ảnh ví von; dịch sang tiếng Việt khó giữ hết nghĩa, nên các bản chú giải rất quan trọng.
Trong cả hai bộ luật tục, phần về đất đai, rừng, rẫy, bến nước chiếm một vị trí rõ. Đó là tài sản sống còn của buôn làng nông nghiệp nương rẫy, nên được bảo vệ bằng cả điều cấm lẫn nghi lễ. Khi đọc phần này, bạn sẽ thấy rừng không được nhìn như một thứ của riêng, mà như của chung có người đại diện trông nom.
Rừng, đất và bến nước thuộc về ai trong luật tục
Đất và rừng thuộc cộng đồng, dòng họ. Trong cách tổ chức truyền thống của người Ê Đê, đất đai, rừng, bến nước của một vùng thuộc về một dòng họ hoặc một buôn. Nhiều tài liệu mô tả có người đại diện trông coi đất của dòng họ, người Ê Đê gọi là pô lan, thường là phụ nữ theo chế độ mẫu hệ.
Người trông coi không phải chủ sở hữu riêng. Người đại diện giữ đất, giữ rừng không được tuỳ ý bán hay cho, mà thay mặt cộng đồng quản lý, phân đất làm rẫy, nhắc nhở người vi phạm, chủ trì một số lễ liên quan tới đất, rừng.
Bến nước có chủ. Bến nước của buôn cũng có người, có dòng họ đứng ra trông nom và chủ trì lễ cúng bến nước. Người dùng nước phải giữ bến sạch; ai làm bẩn, làm hỏng bến là có lỗi với cả buôn.
Người ngoài muốn dùng phải xin. Người từ buôn khác muốn phát rẫy, lấy gỗ, lấy nước trong vùng của một buôn phải xin phép người đại diện. Lấy mà không xin bị coi là xâm phạm, và theo luật tục có thể phải đền.
Rừng thiêng, rừng có mồ mả là vùng cấm. Bên cạnh rừng dùng làm rẫy, có những khoảnh rừng không ai được động tới: rừng thiêng, rừng nghĩa địa, rừng đầu nguồn. Xâm phạm những nơi này là lỗi nặng hơn xâm phạm rẫy thường.
Những lỗi với rừng và cách xử thường được mô tả
Bảng dưới tóm theo ý những loại lỗi liên quan tới rừng hay gặp trong các bản luật tục Ê Đê, M'Nông đã xuất bản. Mức đền cụ thể khác nhau tuỳ bản, tuỳ mức thiệt hại, nên bảng không ghi con số.
| Loại lỗi | Cách xử thường thấy | Ý nghĩa đằng sau |
|---|---|---|
| Đốt rẫy để lửa cháy lan sang rẫy, rừng người khác | Đền cho bên bị thiệt, làm lễ tạ với cộng đồng | Lửa là mối nguy lớn nhất với buôn làng mùa khô; người đốt phải chịu trách nhiệm |
| Phát rẫy lấn đất, lấn rừng của dòng họ, buôn khác | Trả lại đất, đền và làm lễ hoà giải | Giữ ranh giới, tránh tranh chấp kéo dài giữa các buôn |
| Chặt phá rừng đầu nguồn, rừng quanh bến nước | Đền và làm lễ cúng lại nguồn nước | Nguồn nước là sống còn; phá đầu nguồn bị coi là hại cả buôn |
| Làm bẩn, làm hỏng bến nước | Đền vật để làm lễ cúng lại bến, sửa lại bến | Bến nước là nơi thiêng và là nguồn sống hằng ngày |
| Xâm phạm rừng thiêng, rừng nghĩa địa | Đền nặng và làm lễ tạ thần linh, tổ tiên | Đụng tới chỗ thiêng là lỗi với cả cộng đồng người sống và người đã khuất |
| Lấy gỗ, lấy sản vật trong rừng buôn khác không xin | Trả lại hoặc đền, xin lỗi người đại diện | Tôn trọng quyền của cộng đồng chủ rừng |
Điểm chung của các cách xử là luôn có hai vế: đền cho người bị thiệt và làm lễ để khôi phục quan hệ với cộng đồng, với thần linh. Vật đền thường được mô tả bằng gia súc, ché rượu và những vật có giá trị trong đời sống buôn làng. Mục đích không chỉ là phạt mà là khép sự việc lại để buôn làng sống tiếp với nhau.
Ai xử và xử như thế nào
Theo các mô tả phổ biến, người xử những vụ liên quan tới rừng là già làng, người xử kiện có uy tín, hoặc hội đồng những người lớn tuổi của buôn. Họ nghe hai bên trình bày, gọi người làm chứng, rồi đọc các câu luật tục tương ứng để định lỗi và mức đền. Phiên xử thường diễn ra ở nhà dài, nhà rông, trước mặt nhiều người trong buôn.
Đặc điểm đáng chú ý là việc xử nhắm tới hoà giải hơn trừng phạt. Người có lỗi đền xong, làm lễ xong thì được coi là đã trả xong nợ với cộng đồng, không bị xa lánh. Bữa ăn chung sau lễ hoà giải, với rượu cần do bên có lỗi mang tới, là dấu hiệu hai bên đã làm lành.
Lời luật tục được nói ra trong phiên xử có nhịp điệu, nhiều cặp câu so sánh. Người xử dùng hình ảnh rất gần với đời sống rừng núi, như lửa, cây, suối, con thú, để nói về lỗi lầm và trách nhiệm. Nhờ thế, người nghe, kể cả người không trong cuộc, cũng nhớ được điều luật. Đây là lý do nhiều nhà nghiên cứu coi luật tục vừa là luật vừa là một thể loại văn học dân gian.
Cần nói thêm: ngày nay các vụ việc về rừng chịu sự điều chỉnh của pháp luật nhà nước. Hoà giải theo luật tục ở buôn làng chỉ có giá trị trong khuôn khổ pháp luật cho phép, và không thay thế việc xử lý của cơ quan chức năng khi có vi phạm pháp luật về rừng.
Phần nào của luật tục về rừng đang được dùng lại
Từ những năm 1990 tới nay, nhiều chương trình giao đất giao rừng, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Tây Nguyên tìm cách kết hợp luật tục với quy định pháp luật. Những phần thường được đưa vào quy ước bảo vệ rừng của thôn, buôn gồm:
- Xác định ranh giới rừng của buôn dựa trên hiểu biết của già làng, người đại diện đất, sau đó đo vẽ chính thức.
- Cấm phát rẫy ở đầu nguồn, quanh bến nước, trong rừng thiêng, rừng nghĩa địa, đúng như luật tục vốn cấm.
- Quy định về lửa: báo trước khi đốt, làm đường băng cản lửa, người gây cháy phải chịu trách nhiệm.
- Vai trò của già làng trong nhắc nhở, hoà giải những va chạm nhỏ trong buôn trước khi phải đưa ra chính quyền.
- Hình thức xử lý mang tính cộng đồng như xin lỗi trước buôn, làm lại phần rừng đã phá, trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Đưa các lễ cúng rừng, cúng bến nước vào lịch sinh hoạt chung, để mỗi năm cả buôn cùng nhắc lại cam kết.
Cũng có những phần không còn phù hợp và được cộng đồng tự bỏ, như các mức phạt quá nặng hay những cách xử trái pháp luật hiện hành. Việc chọn giữ phần nào, bỏ phần nào là quá trình bàn bạc giữa cộng đồng và chính quyền, không phải chuyện áp từ ngoài vào.
Đọc luật tục về rừng cho đúng: vài lưu ý
Luật tục là sản phẩm của một xã hội cụ thể, trong một thời điểm cụ thể. Đọc nó như một bộ luật chung cho mọi dân tộc Tây Nguyên, hay như bằng chứng cho một quan điểm bảo tồn hiện đại, đều là đọc quá. Người Ê Đê, M'Nông xưa giữ rừng vì rừng là nguồn sống và là nơi thần linh ngự, không phải vì khái niệm đa dạng sinh học.
Nhưng cũng không nên coi nhẹ. Luật tục cho thấy một cộng đồng đã tự tổ chức để dùng rừng có giới hạn: biết vùng nào được dùng, vùng nào cấm, ai chịu trách nhiệm khi gây hại, và làm sao để sau một lỗi lầm, buôn làng vẫn sống được với nhau. Đó là những câu hỏi mà mọi chính sách quản lý rừng hôm nay vẫn phải trả lời.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu, hãy đọc các bản luật tục đã được xuất bản, kèm phần chú giải, rồi tìm gặp già làng ở chính buôn bạn quan tâm. Lời của người đang sống với luật tục sẽ cho bạn thấy phần nào còn sống, phần nào chỉ còn trên giấy.
Một lưu ý nhỏ khi trích dẫn: nhiều bài viết trên mạng chép lại một hai câu luật tục rất hay về rừng mà không ghi nguồn, có khi câu chữ đã bị sửa qua nhiều lần chép. Nếu cần trích, hãy lấy từ sách đã xuất bản, ghi rõ tên sách và người dịch, để lời của cộng đồng không bị méo đi qua tay người viết.
Câu hỏi thường gặp
Luật tục Ê Đê có nói về rừng không?
Có. Luật tục Ê Đê có nhiều điều về đất đai, rừng, rẫy và bến nước: ai giữ, ai được dùng, những việc như đốt rẫy cháy lan, lấn rẫy, chặt phá đầu nguồn, làm bẩn bến nước phải đền và làm lễ tạ ra sao. Bạn nên đọc bản đã xuất bản kèm chú giải.
Pô lan là ai?
Theo nhiều tài liệu về người Ê Đê, pô lan là người đại diện trông coi đất đai, rừng của một dòng họ, thường là phụ nữ theo chế độ mẫu hệ. Người này không phải chủ sở hữu riêng mà thay mặt cộng đồng quản lý, phân đất làm rẫy và chủ trì một số lễ.
Theo luật tục, làm cháy rừng bị xử thế nào?
Các bản luật tục mô tả người để lửa cháy lan sang rẫy, rừng của người khác phải đền cho bên bị thiệt và làm lễ tạ với cộng đồng. Mức đền tuỳ mức thiệt hại và tuỳ buôn. Ngày nay, cháy rừng còn bị xử lý theo pháp luật nhà nước.
Luật tục có còn giá trị pháp lý không?
Luật tục không thay thế pháp luật nhà nước. Những phần phù hợp được nhiều buôn làng đưa vào quy ước, hương ước bảo vệ rừng và được chính quyền công nhận. Hoà giải theo luật tục chỉ có giá trị trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Luật tục M'Nông và Ê Đê khác nhau thế nào về rừng?
Cả hai đều coi rừng, rẫy, bến nước là tài sản chung cần giữ và có điều cấm, cách đền tương tự. Khác biệt nằm ở cấu trúc xã hội, cách gọi người đại diện, chi tiết lễ và mức đền. Muốn so sánh kỹ, bạn nên đọc hai bản đã xuất bản cạnh nhau.
Vì sao các dự án bảo vệ rừng quan tâm tới luật tục?
Vì luật tục đã có sẵn ranh giới, điều cấm, người chịu trách nhiệm và cách hoà giải mà cộng đồng hiểu và tin. Kết hợp luật tục với quy định pháp luật giúp quy ước bảo vệ rừng được người dân tự nguyện giữ, thay vì chỉ là văn bản treo.