Truyện cây khế kể về hai anh em: cha mẹ mất, người anh tham lam chiếm hết gia tài, chỉ chia cho em túp lều và cây khế; một con chim lạ đến ăn khế, hứa "ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng"; người em may túi đúng ba gang, được chim chở ra đảo vàng rồi đưa về; người anh đổi lấy cây khế, may túi mười hai gang, nhồi vàng quá nặng nên rơi xuống biển. Đây là truyện cổ tích về lòng tham được nhiều thế hệ người Việt thuộc lòng.
Bài này kể lại câu chuyện, chỉ ra các bản kể khác nhau, giải nghĩa những chi tiết như túi ba gang và con chim lạ, đặt truyện vào kiểu truyện hai anh em có ở nhiều dân tộc, và nói về chính cây khế, thứ cây vườn quê mà truyện đã biến thành biểu tượng.
Câu chuyện theo bản kể quen thuộc
Ngày xưa có một nhà nọ có hai anh em. Cha mẹ mất, người anh lấy vợ, rồi chia gia tài: anh lấy hết nhà cửa ruộng vườn, trâu bò, chỉ để lại cho em một túp lều nhỏ và một cây khế ở góc vườn. Người em không nói gì, ngày ngày làm thuê, chăm cây khế. Cây sai quả, vợ chồng người em định hái đem ra chợ bán.
Một hôm, một con chim lớn lạ bay đến ăn khế. Ngày nào nó cũng đến, ăn hết chùm này sang chùm khác. Người vợ đứng dưới gốc than thở: chim ăn hết thì nhà lấy gì sinh sống. Chim bèn đáp: ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng. Vợ chồng người em may một chiếc túi đúng ba gang tay.
Hôm sau chim đến, cõng người em bay qua biển, đến một hòn đảo đầy vàng bạc châu báu. Người em chỉ nhặt vừa đủ đầy túi ba gang rồi lên lưng chim trở về. Từ đó vợ chồng em khá giả, vẫn chăm làm, thường giúp đỡ người nghèo trong xóm.
Người anh thấy em giàu lên thì sang hỏi, biết chuyện liền đòi đổi hết nhà cửa ruộng vườn lấy túp lều và cây khế. Người em bằng lòng. Chim lại đến, người anh cũng than như em, chim cũng hẹn may túi ba gang. Vợ chồng người anh may túi to đến mười hai gang. Ra đến đảo, người anh nhét đầy túi, giắt thêm vàng vào khắp người. Trên đường về, chim mỏi cánh, nghiêng mình, người anh cùng túi vàng rơi xuống biển.
Các bản kể khác nhau ở đâu
Truyện cây khế được kể khắp ba miền và có trong hầu hết các tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam. Qua lời kể của mỗi vùng, mỗi người, một số chi tiết thay đổi:
| Chi tiết | Bản quen thuộc | Cách kể khác từng gặp |
|---|---|---|
| Con chim | Một con chim lớn, lạ | Có bản gọi là chim phượng hoàng, có bản là đại bàng, có bản chỉ gọi là chim thần |
| Câu chim nói | Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng | Câu chữ xê dịch chút ít nhưng các bản đều có túi ba gang |
| Kích cỡ túi của người anh | Mười hai gang | Có bản là túi to gấp mấy lần, có bản nói vợ người anh may thêm túi phụ |
| Số phận người anh | Rơi xuống biển | Có bản mềm hơn: người anh rơi xuống nhưng được cứu, trở về hối cải |
| Người em | Chăm làm, biết đủ, giúp người nghèo | Có bản nhấn vào việc người em chia vàng cho anh trước khi anh đổi cây |
Bản kết có hậu cho người anh xuất hiện nhiều trong sách thiếu nhi những năm gần đây, khi người viết muốn tránh cái chết trong truyện cho trẻ nhỏ. Cả hai cách kết đều có lý của nó: bản cổ nhấn vào cái giá của lòng tham, bản mới nhấn vào cơ hội sửa sai.
Đọc những hình ảnh trong truyện
Cây khế ở góc vườn. Cây khế là thứ cây vườn bình thường nhất, quả chua, ít ai coi là của quý. Người anh để lại cho em cây khế vì nghĩ nó vô giá trị. Truyện đảo ngược: chính thứ bị coi rẻ lại đem đến của cải, nhưng chỉ cho người biết quý nó và biết đủ.
Túi ba gang. Gang là cách đo bằng bàn tay căng từ đầu ngón cái đến đầu ngón út, đơn vị đo quen thuộc của người xưa. Túi ba gang là túi vừa phải. Con số này trở thành thành ngữ, người ta nói "may túi ba gang" để nhắc nhau biết đủ.
Con chim lạ. Con chim là sứ giả của sự công bằng: ăn của ai thì trả cho người ấy, nhưng cũng thử lòng người. Chim chở cả người anh lẫn người em, cho cả hai cơ hội như nhau; chỉ đến khi túi quá nặng, chim mới không gánh nổi. Không phải chim phạt người anh, mà chính lòng tham làm người anh rơi.
Người em bằng lòng đổi. Khi người anh đòi đổi cả gia tài lấy túp lều và cây khế, người em không giữ khư khư cây đã đem lại vận may cho mình. Chi tiết này thường bị kể lướt, nhưng nó cho thấy người em không coi cây khế là bùa giữ của. Thứ làm người em khá lên là cách sống biết đủ, chứ không phải bản thân cái cây. Người anh thì ngược lại, tin rằng có cây là có vàng, nên mất cả vàng lẫn mạng.
Hòn đảo vàng. Đảo vàng giữa biển là hình ảnh của của cải vô tận. Truyện đặt người em và người anh trước cùng một kho vàng, để sự khác biệt nằm hoàn toàn ở cách họ lấy.
Kiểu truyện hai anh em có ở nhiều dân tộc
Các nhà nghiên cứu truyện dân gian xếp truyện cây khế vào nhóm truyện hai anh em, một kiểu truyện có mặt ở nhiều nền văn hoá. Mô-típ chung là người tốt được một con vật hay một vị thần giúp, người xấu bắt chước để được của mà thất bại vì lòng tham. Ở Hàn Quốc có truyện Heungbu và Nolbu, người em tốt chữa chân cho chim én, được chim cho hạt bầu nở ra của cải, người anh cố tình làm gãy chân chim để bắt chước thì gặp hoạ.
Trong kho truyện Việt, cũng có nhiều truyện cùng mô-típ người tốt được đền đáp, kẻ tham bị trừng phạt. Điều làm truyện cây khế đặc biệt là nó gắn với một loài cây cụ thể, quen thuộc, và một câu nói vần vè dễ thuộc. Nhờ vậy truyện sống rất lâu trong trí nhớ, nhiều người lớn tuổi vẫn đọc được câu chim nói dù đã quên các chi tiết khác.
Truyện cây khế cũng là đề tài được phân tích nhiều trong văn học dân gian ở nhà trường, với các góc như nhân vật, kết cấu, ý nghĩa xã hội. Ở đây, ta dừng ở chỗ cây khế: vì sao truyện chọn cây khế, cây khế thật ra sao, và vì sao cây khế đã thành hình ảnh của quê nhà trong lòng người Việt.
Cây khế ngoài đời
Cây khế có tên khoa học là Averrhoa carambola, có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á nhiệt đới và được trồng ở Việt Nam từ lâu. Cây cao vừa phải, tán rộng, lá kép nhỏ, hoa tím hồng li ti mọc thành chùm trên cành và cả trên thân. Quả có năm múi, cắt ngang ra hình ngôi sao, nên trong tiếng Anh gọi là quả ngôi sao. Ở ta có khế chua và khế ngọt, khế chua dùng nấu canh, kho cá, ăn với các món cuốn.
Khế ra quả nhiều đợt trong năm, chùm này chưa hết chùm khác đã ra, nên một cây khế góc vườn cho quả gần như quanh năm. Chi tiết chim ăn khế ngày này qua ngày khác trong truyện vì vậy rất sát thực tế: cây khế sai quả và luôn có chim chóc tìm đến. Người làm vườn ở quê biết rõ cảnh ấy.
Một lưu ý cho người kể chuyện và cho các gia đình: các tài liệu y khoa có ghi nhận quả khế có thể gây hại cho người bị bệnh thận, vì vậy người có bệnh thận nên hỏi bác sĩ trước khi ăn khế. Kể truyện cây khế cho trẻ thì cứ kể, nhưng ăn khế thì nên vừa phải, như chính bài học túi ba gang.
Trong thơ ca hiện đại, cây khế và chùm khế đã thành hình ảnh của quê hương, của tuổi thơ trong vườn nhà. Rất có thể một phần sức sống của hình ảnh ấy đến từ truyện cổ tích: ai cũng từng nghe kể về cây khế trong vườn của người em, một cái cây bình thường mà chứa cả một bài học làm người.
Kể truyện cây khế cho trẻ
Truyện cây khế có nhịp lặp, có câu vần, có thử thách và kết cục rõ ràng, rất hợp để kể cho trẻ từ bốn, năm tuổi. Một cách kể gợi ý:
- Mở đầu bằng một quả khế thật, cắt ngang cho trẻ thấy hình ngôi sao.
- Kể phần chia gia tài ngắn gọn, nói người anh lấy hết, người em chỉ được cây khế.
- Đến đoạn chim đến, đọc câu "ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng" và để trẻ đọc theo.
- Dùng tay đo một gang, cho trẻ tự đo ba gang tay của mình để thấy túi to cỡ nào.
- Kể đoạn người anh may túi mười hai gang, cho trẻ đo mười hai gang để thấy to gấp bốn.
- Kết truyện theo bản phù hợp với tuổi trẻ: trẻ nhỏ có thể dùng bản người anh được cứu và biết lỗi.
- Hỏi trẻ: nếu con được ra đảo vàng, con sẽ lấy bao nhiêu, vì sao?
Câu hỏi cuối không cần đáp án đúng. Trẻ nói lấy nhiều để chia cho bạn, cho ông bà, cũng là một câu trả lời đáng khen. Điều quan trọng là trẻ hiểu biết đủ không có nghĩa là không được muốn gì, mà là không để lòng muốn làm hại chính mình.
Câu hỏi thường gặp
Câu ăn một quả trả cục vàng đầy đủ là gì?
Câu quen thuộc nhất là ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng. Mỗi vùng nói xê dịch vài chữ, nhưng ý chính và chiếc túi ba gang thì bản nào cũng giữ.
Túi ba gang to cỡ nào?
Một gang là khoảng cách từ đầu ngón cái đến đầu ngón út khi căng bàn tay, khác nhau tuỳ người. Túi ba gang là túi có chiều dài khoảng ba lần gang tay, một chiếc túi vừa phải. Cụm từ này nay thành cách nói nhắc nhau biết đủ.
Con chim trong truyện cây khế là chim gì?
Bản kể quen thuộc chỉ nói là một con chim lớn, lạ. Có bản gọi là phượng hoàng, có bản là đại bàng, có bản là chim thần. Không có bản nào được coi là chuẩn duy nhất, người kể chọn tên nào cũng được.
Có nên kể đoạn người anh rơi xuống biển cho trẻ nhỏ?
Với trẻ mẫu giáo, nhiều người kể chọn bản kết nhẹ hơn: người anh rơi xuống nhưng được cứu và biết hối lỗi. Với trẻ lớn hơn, bạn có thể kể bản cổ và giải thích rằng truyện muốn cho thấy lòng tham có thể gây hại cho chính mình.
Truyện cây khế có giống truyện của nước nào không?
Truyện thuộc kiểu truyện hai anh em có ở nhiều dân tộc. Ví dụ ở Hàn Quốc có truyện Heungbu và Nolbu, người em tốt được chim én đền ơn bằng hạt bầu chứa của cải, người anh tham bắt chước thì gặp hoạ.
Cây khế có nguồn gốc từ đâu?
Cây khế có tên khoa học Averrhoa carambola, nguồn gốc vùng Đông Nam Á nhiệt đới, được trồng ở Việt Nam từ lâu. Quả có năm múi, cắt ngang hình ngôi sao, có loại chua và loại ngọt.