Sự tích cây nêu kể rằng xưa kia quỷ chiếm hết đất, người phải làm thuê và bị quỷ lừa chia hoa lợi; Phật hiện ra dạy người cách trồng cây để quỷ thua lần này đến lần khác, rồi bày cho người mua đất bằng một mảnh đất rộng bằng bóng chiếc áo cà sa treo trên ngọn tre; áo bay lên che kín trời đất, quỷ phải lui ra biển, và người dựng cây nêu mỗi dịp Tết để giữ đất. Đó là lớp truyện giải thích vì sao người Việt xưa trồng nêu từ cuối tháng Chạp đến đầu tháng Giêng.
Bài này kể lại câu chuyện theo các bản quen thuộc, giải thích các vật treo trên nêu theo truyện, so sánh với những cách hiểu khác về cây nêu, và nói rõ chỗ nào là truyện, chỗ nào là tục. Phần tục trồng nêu ngày nay, các vùng còn giữ, cây nêu ở các dân tộc Tây Nguyên là một mảng riêng; ở đây trọng tâm là câu chuyện.
Câu chuyện Phật và quỷ tranh đất
Ngày xưa, đất đai đều thuộc về quỷ. Người không có đất, phải làm thuê cho quỷ, cày cấy trên đất của quỷ, đến mùa thì quỷ lấy phần lớn hoa lợi. Quỷ lại ranh ma, mỗi năm đổi cách chia để người luôn chịu thiệt. Đời sống của người ngày càng cực khổ.
Phật thương người, hiện ra bày cách. Năm ấy quỷ đòi lấy phần ngọn, để người lấy phần gốc. Phật dạy người trồng khoai. Đến mùa, củ khoai nằm dưới đất thuộc về người, quỷ chỉ được mớ lá. Năm sau quỷ đổi, đòi lấy phần gốc, để người lấy phần ngọn. Phật dạy người trồng lúa. Mùa gặt, bông lúa ở ngọn thuộc về người, quỷ chỉ được rơm rạ và gốc rạ. Năm sau nữa quỷ đòi cả ngọn lẫn gốc. Phật dạy trồng ngô, bắp ngô nằm ở giữa thân, người lại được phần quý.
Quỷ tức giận, đòi lấy lại đất. Phật bảo người đến xin quỷ bán cho một mảnh đất chỉ rộng bằng bóng chiếc áo cà sa. Quỷ nghĩ áo nhỏ, bằng lòng ngay. Người dựng một cây tre cao, treo áo cà sa lên ngọn. Áo bay lên, càng lúc càng rộng, bóng áo phủ kín khắp nơi. Quỷ lùi mãi, lùi mãi, đến tận ngoài biển khơi.
Quỷ không cam, kéo quân về đánh, nhưng thua vì Phật đã dặn người những thứ quỷ sợ. Cuối cùng quỷ xin mỗi năm được vào đất liền mấy ngày Tết để thăm mồ mả tổ tiên. Phật thuận. Từ đó, mỗi dịp Tết, người dựng cây nêu, treo những thứ quỷ sợ, để nhắc rằng đất này đã thuộc về người, quỷ đến thăm thì được, nhưng không được quấy.
Truyện giải thích các tục Tết thế nào
Điều làm truyện cây nêu đặc biệt là nó không chỉ giải thích cây nêu, mà giải thích cả một chuỗi tục Tết cùng lúc. Mỗi chi tiết trong truyện ứng với một việc người xưa làm trong những ngày cuối năm. Bảng dưới đọc các tục ấy qua lăng kính câu chuyện, không phải hướng dẫn treo gì, dựng ra sao:
| Vật | Giải nghĩa theo truyện | Ghi chú |
|---|---|---|
| Cây tre làm nêu | Gợi lại cây tre treo áo cà sa, dấu hiệu đất có chủ | Thường chọn cây tre già, thẳng, còn chùm lá ở ngọn |
| Khánh đất nung nhỏ | Gió đung đưa phát tiếng kêu, nhắc quỷ biết đây là đất của người | Có nơi treo chuông nhỏ, mõ nhỏ thay khánh |
| Lá dứa hoặc cành gai | Thứ quỷ sợ, nên treo để quỷ không lại gần | Không phải nơi nào cũng treo |
| Bùa đỏ, giấy đỏ, vải đỏ | Dấu hiệu nơi có người, có Phật che chở | Ngày nay nhiều nơi thay bằng cờ, vải màu |
| Vôi bột rắc trước sân | Vẽ hình cung tên chĩa ra ngoài để doạ quỷ | Còn gặp ở vài vùng nông thôn Bắc Bộ |
| Tiếng pháo ngày Tết | Có bản nói pháo dùng để xua quỷ | Pháo nổ nay bị cấm theo quy định hiện hành |
Nhiều chi tiết trong bảng được các nhà nghiên cứu phong tục như Toan Ánh ghi lại trong các sách viết về nếp sống cổ truyền. Bạn đọc thêm các sách ấy sẽ thấy mỗi làng, mỗi vùng có những vật treo khác nhau, có nơi treo cả bó hoa, đèn lồng, cá chép giấy. Cây nêu mỗi nhà vì thế là một tấm thẻ nhỏ nói về nếp làng mình.
Truyện cây nêu đang nói điều gì
Chuyện giành lại đất. Lõi của truyện là đất. Với cư dân nông nghiệp lúa nước, đất là sự sống. Người phải làm thuê trên đất của kẻ khác rồi giành được đất về mình là một ước mơ rất thật. Cây nêu, ở lớp nghĩa này, là cột mốc đánh dấu chủ quyền của người trên mảnh đất của mình.
Trí khôn thắng sức mạnh. Quỷ mạnh và ranh, người yếu. Người không thắng bằng sức mà bằng hiểu biết về cây trồng: khoai có củ dưới đất, lúa có bông trên ngọn, ngô có bắp giữa thân. Đây là kiến thức nhà nông thật sự, được đưa vào truyện để thấy nghề nông là một thứ trí tuệ.
Hình ảnh Phật trong truyện dân gian. Phật ở đây là hình ảnh của lòng từ bi, đứng về phía người yếu, theo kiểu Bụt trong truyện cổ tích Việt hơn là theo nghĩa giáo lý. Muốn hiểu về Phật giáo theo kinh điển, bạn nên hỏi chư tăng hoặc đọc tài liệu chuyên về Phật học.
Cho quỷ về thăm mồ mả. Một chi tiết nhân hậu ít người để ý: dù thắng, người vẫn cho quỷ mỗi năm về thăm tổ tiên. Truyện không đuổi tận giết tuyệt, chỉ đặt ranh giới. Có nhà nghiên cứu cho rằng chi tiết này phản ánh cách người Việt xưa ứng xử với người thua cuộc, cũng có người đọc nó như cách giải thích vì sao Tết lại có các tục xua đuổi.
Những cách hiểu khác về cây nêu
Truyện Phật và quỷ chỉ là một cách giải thích. Các nhà nghiên cứu văn hoá còn nêu nhiều giả thuyết khác về gốc của cây nêu. Một hướng cho rằng nêu là hình ảnh cây vũ trụ, cây nối trời và đất, có mặt trong tín ngưỡng nhiều cư dân Đông Nam Á; dựng nêu là tạo một trục để trời đất giao hoà vào thời khắc năm cũ chuyển sang năm mới. Hướng này gắn với cây nêu trong lễ hội của các dân tộc Tây Nguyên.
Một hướng khác nhìn cây nêu như một dấu hiệu báo nhà có Tết, có lễ, giống cột cờ, để người qua đường biết. Hướng này thực dụng hơn, coi các vật treo trên nêu là đồ trang trí và tín hiệu. Cũng có người nhắc đến cây nêu đo bóng mặt trời của người xưa để định mùa, nhưng đó là một vật khác trong lịch sử thiên văn, không nên lẫn với cây nêu ngày Tết.
Những giả thuyết này không loại trừ nhau. Một tục lệ sống lâu thường được nhiều lớp nghĩa chồng lên: lớp cây vũ trụ cổ, lớp ranh giới đất, lớp Phật giáo dân gian, lớp trang trí ngày Tết. Truyện Phật và quỷ là lớp được kể nhiều nhất vì nó dễ nhớ, có nhân vật, có thắng thua. Khi kể cho trẻ, bạn có thể chọn truyện này, rồi khi trẻ lớn thì nói thêm rằng còn những cách hiểu khác.
Các bản kể sự tích cây nêu khác nhau ở đâu
Truyện cây nêu là truyện truyền miệng, được các nhà nghiên cứu phong tục ghi lại theo lời kể ở nhiều làng, nên mỗi bản một chút khác. Biết những chỗ lệch này, bạn sẽ không bối rối khi nghe ông bà kể khác với sách:
| Chi tiết | Bản kể hay gặp | Cách kể khác từng gặp |
|---|---|---|
| Người giúp con người | Phật | Có bản gọi là Bụt, có bản là một vị sư, một ông già hiền |
| Các lần chia hoa lợi | Ba lần: khoai, lúa, ngô | Có bản chỉ kể hai lần khoai và lúa, có bản đổi thứ tự cây trồng |
| Cách giành lại đất | Bóng áo cà sa treo trên ngọn tre | Có bản nói áo cà sa trải rộng ra trên mặt đất, có bản nói tiếng khánh trên ngọn tre vang tới đâu thì đất người tới đó |
| Nơi quỷ phải lui về | Ra ngoài biển khơi | Có bản nói quỷ lui về rừng sâu, núi xa |
| Lời hẹn sau cùng | Quỷ được vào thăm mồ mả mấy ngày Tết | Có bản không có chi tiết này, kết ở chỗ người dựng nêu mỗi năm để giữ đất |
| Trận đánh của quỷ | Quỷ kéo quân về đánh nhưng thua | Có bản bỏ trận đánh, chỉ kể quỷ tức tối bỏ đi |
Điểm mà mọi bản đều giữ là ba thứ: đất ban đầu thuộc về quỷ, con người thắng bằng hiểu biết về cây trồng, và cây tre cao ở cuối truyện đánh dấu đất đã về tay người. Đó là lõi bạn nên giữ khi kể lại. Còn những chi tiết như vật treo trên nêu, ngày dựng ngày hạ, mỗi làng có lệ riêng, nên hỏi người lớn tuổi ở địa phương mình. Muốn tìm khánh đất, chuông nhỏ làm vật treo cho cây nêu của nhà, bạn có thể xem thêm vật phẩm trên Vật Phẩm Phong Thủy.
Kể truyện cây nêu cho trẻ: giữ phần vui, bớt phần đáng sợ
Truyện cây nêu có nhân vật quỷ, nên với trẻ nhỏ, bạn nên tả quỷ như những kẻ tham lam, ngốc nghếch hơn là đáng sợ. Phần trẻ thích nhất thường là ba lần chia hoa lợi: quỷ đòi ngọn thì được lá khoai, đòi gốc thì được gốc rạ, đòi cả hai thì được thân ngô trơ trụi. Đây là đoạn để trẻ cười và cũng là đoạn dạy trẻ biết cây khoai, cây lúa, cây ngô ăn phần nào.
Với trẻ lớn hơn, đoạn chia hoa lợi còn là dịp dạy một chút về cây trồng. Bạn có thể hỏi trẻ: củ khoai mọc ở đâu, bông lúa ở đâu, bắp ngô ở đâu, rồi cùng xem ảnh hoặc ra vườn nhìn tận mắt. Trẻ thành phố ít khi thấy cây ngô, cây lúa ngoài đời, nên truyện cây nêu là cái cớ tốt để đưa trẻ về một chuyến đồng quê dịp Tết.
Phần chiếc áo cà sa bay rộng là hình ảnh đẹp, có thể kể chậm, để trẻ tưởng tượng một tấm áo che kín trời. Đến phần quỷ được về thăm mồ mả, nhấn vào sự rộng lượng của người thắng. Kết truyện bằng việc cả nhà cùng dựng cây nêu ngày Tết.
Sau khi kể, bạn có thể cho trẻ làm một cây nêu nhỏ bằng que tre, treo những vật trẻ tự nặn. Trẻ sẽ nhớ truyện lâu hơn khi tay được làm. Cũng nên nói rõ với trẻ đây là truyện cổ tích, quỷ trong truyện không có thật, để trẻ không sợ ra sân lúc tối những ngày Tết.
Câu hỏi thường gặp
Sự tích cây nêu kể về điều gì?
Truyện kể rằng quỷ chiếm hết đất, người phải làm thuê và bị quỷ lừa. Phật dạy người trồng khoai, lúa, ngô để thắng quỷ khi chia hoa lợi, rồi bày cho người xin đất rộng bằng bóng áo cà sa treo trên ngọn tre. Áo bay rộng che kín, quỷ phải lui ra biển, từ đó người dựng nêu ngày Tết.
Vì sao cây nêu thường làm bằng tre?
Theo truyện, người dùng cây tre để treo áo cà sa nên cây nêu làm bằng tre gợi lại chi tiết ấy. Ngoài đời, tre là cây sẵn có ở làng Việt, thân thẳng, cao, dẻo, dễ dựng, nên rất hợp để làm cột nêu.
Vì sao trong truyện quỷ lại được về đất liền mấy ngày Tết?
Theo bản kể phổ biến, sau khi thua, quỷ xin mỗi năm được vào thăm mồ mả tổ tiên vài ngày Tết và được chấp thuận. Chi tiết này giải thích vì sao Tết lại có những tục như dựng nêu, rắc vôi để giữ ranh giới. Có bản kể không có chi tiết này.
Truyện cây nêu có phải giáo lý Phật giáo không?
Không. Đây là truyện dân gian, hình ảnh Phật trong truyện gần với ông Bụt hiền lành giúp người trong cổ tích Việt. Muốn hiểu về Phật giáo theo kinh điển, bạn nên hỏi chư tăng hoặc đọc sách Phật học.
Ngoài truyện Phật và quỷ, cây nêu còn được giải thích thế nào?
Các nhà nghiên cứu còn nêu giả thuyết cây nêu là hình ảnh cây vũ trụ nối trời đất, gần với cây nêu trong lễ hội các dân tộc Tây Nguyên, hoặc là dấu hiệu báo nhà có Tết. Các cách hiểu này có thể cùng tồn tại.
Có nên kể truyện cây nêu cho trẻ nhỏ không?
Có. Truyện có đoạn chia hoa lợi rất vui, dạy trẻ biết cây khoai, lúa, ngô ăn phần nào. Bạn nên tả quỷ là kẻ tham lam ngốc nghếch thay vì đáng sợ, và nói rõ đây là truyện cổ tích.