Truyện cây tre trăm đốt kể về anh Khoai, người làm thuê chăm chỉ được phú ông hứa gả con gái nếu làm lụng ba năm; hết hạn, phú ông nuốt lời, sai anh vào rừng tìm cây tre có đủ trăm đốt làm điều kiện; Bụt hiện lên, dạy anh câu thần "khắc nhập, khắc xuất" để nối trăm đốt tre rời thành một cây và dính chặt phú ông vào đó, cho đến khi lão chịu giữ lời. Đây là một trong những truyện cổ tích Việt Nam quen thuộc nhất với trẻ nhỏ.
Truyện không giải thích nguồn gốc một loài cây như sự tích trầu cau hay dưa hấu, nhưng lấy cây tre, thứ cây gần gũi nhất của làng Việt, làm trung tâm. Bài này kể lại câu chuyện, chỉ ra những chỗ khác nhau giữa các bản, giải nghĩa vì sao người xưa chọn cây tre và con số một trăm, và gợi ý cách kể cho trẻ.
Câu chuyện theo bản kể quen thuộc
Ngày xưa có một anh nông dân tên Khoai, hiền lành, khoẻ mạnh, đi ở cho nhà một lão phú ông. Phú ông có cô con gái đẹp, bèn hứa với Khoai: con chịu khó làm cho ta ba năm, ta sẽ gả con gái cho. Khoai tin lời, làm lụng quần quật, sáng đi cày, chiều đi bừa, nhà phú ông nhờ anh mà giàu thêm.
Ba năm trôi qua, phú ông lại ngấm ngầm gả con gái cho con trai một nhà giàu trong làng. Để đánh lạc Khoai, lão bảo: con vào rừng tìm cho ta một cây tre đủ trăm đốt, mang về làm đũa cho đám cưới, thì ta gả con gái cho. Khoai vác dao vào rừng, đi khắp nơi, chặt cây nào cũng đếm, nhưng không cây nào đủ trăm đốt.
Anh ngồi khóc. Bụt hiện lên hỏi chuyện, rồi bảo anh chặt đủ trăm đốt tre rời, xếp lại một chỗ, đọc "khắc nhập, khắc nhập". Các đốt tre liền lại thành một cây tre trăm đốt. Bụt dặn thêm, muốn tách ra thì đọc "khắc xuất, khắc xuất". Anh tách tre ra, bó lại, vác về làng.
Về đến nơi, đám cưới đang diễn ra. Khoai xếp các đốt tre, đọc "khắc nhập", cây tre trăm đốt hiện ra. Phú ông chạy lại xem, Khoai đọc tiếp "khắc nhập", lão bị dính chặt vào cây tre. Ông thông gia chạy đến kéo cũng bị dính luôn. Phú ông van xin, hứa gả con gái cho Khoai. Khoai đọc "khắc xuất", hai người được thả ra. Nhà giàu kia xấu hổ bỏ về, Khoai cưới được vợ.
Những chỗ các bản kể khác nhau
Cây tre trăm đốt là truyện truyền miệng, được nhiều nhà sưu tầm ghi lại trong các tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam và sách đọc cho thiếu nhi. Mỗi bản có vài chi tiết riêng:
| Chi tiết | Bản quen thuộc | Cách kể khác từng gặp |
|---|---|---|
| Thời hạn làm thuê | Ba năm | Có bản ghi mười năm hoặc không nêu số năm |
| Mục đích tìm tre | Làm đũa cho đám cưới | Có bản nói làm cột rạp cưới, có bản chỉ nói phú ông bày ra để làm khó |
| Người giúp anh Khoai | Bụt | Có bản là một ông già, một ông tiên |
| Những người bị dính vào tre | Phú ông và ông thông gia | Có bản thêm cả gia nhân, cả nhà trai lần lượt bị dính |
| Câu thần | Khắc nhập, khắc xuất | Các bản đều giữ câu này, chỉ khác số lần lặp |
| Kết truyện | Khoai cưới được con gái phú ông | Có bản nói hai vợ chồng sống hạnh phúc, phú ông sợ không dám bội tín nữa |
Câu "khắc nhập, khắc xuất" được giữ gần như nguyên văn qua mọi bản, vì đó là phần dễ nhớ nhất, trẻ con thích đọc theo nhất. Các nhà nghiên cứu đọc "khắc" ở đây theo nghĩa Hán Việt là lập tức, tức thì; "nhập" là vào, liền; "xuất" là ra, rời. Cả câu là lệnh nói cho đồ vật liền vào ngay, rời ra ngay.
Vì sao lại là cây tre, vì sao lại là trăm đốt
Tre là cây của làng. Làng Bắc Bộ xưa thường có luỹ tre bao quanh, tre làm nhà, làm rổ rá, làm đòn gánh, làm đũa. Một anh làm thuê như Khoai quen với tre hơn bất cứ thứ cây nào. Truyện chọn tre vì người nghe nào cũng hình dung được ngay.
Đốt tre đếm được. Thân tre chia thành từng đốt rõ ràng, có mắt tre ngăn cách. Thứ đếm được thì làm điều kiện được. Phú ông đưa ra một con số cụ thể để có vẻ công bằng, nhưng thực chất là đặt một đòi hỏi rất khó thoả mãn bằng một cây tre bình thường.
Con số một trăm. Trong lời ăn tiếng nói dân gian, trăm thường chỉ số rất nhiều, gần như trọn vẹn: trăm năm, trăm họ, trăm hoa. Cây tre trăm đốt vì vậy là một hình ảnh phóng đại, ý nói một thứ phải tìm đến mỏi mắt.
Tre rời rồi liền. Đốt tre rời ra, liền lại là hình ảnh của sự đoàn kết dễ hiểu với trẻ: từng đốt riêng lẻ thì ngắn, nối lại thì thành cây dài. Nhiều thầy cô dùng truyện này để nói về sức mạnh của tập thể, dù truyện gốc nhấn vào lời hứa nhiều hơn.
Truyện nói gì về lời hứa và về người lao động
Lõi của truyện là lời hứa. Phú ông hứa để lợi dụng sức Khoai, rồi bội hứa khi đã được lợi. Anh Khoai không có sức, không có quyền để đòi, nên phải cần đến phép lạ. Câu chuyện vì thế mang một mong ước rất thật của người nghèo: có ai đó bắt kẻ giàu phải giữ lời.
Hình ảnh phú ông dính vào cây tre, càng giãy càng dính, là hình phạt vừa đủ, không đổ máu mà làm lão bẽ mặt trước cả làng. Người nghe cười, và trong tiếng cười ấy có sự hả hê của người làm thuê. Truyện cổ tích Việt nhiều khi xử kẻ xấu bằng cái cười như vậy thay vì bằng sự trừng phạt nặng nề.
Anh Khoai cũng là hình mẫu được yêu thích: chăm chỉ, thật thà, tin người đến mức ngây thơ, nhưng không cam chịu đến cùng. Khi có cơ hội, anh dùng phép Bụt cho để đòi lại công bằng, xong thì thả người ra, không trả thù thêm. Đó là cách người xưa vẽ một người tốt: biết đòi lẽ phải mà không tàn nhẫn.
Có người hỏi vì sao người tốt lại cần Bụt mới thắng được. Đây là đặc điểm chung của nhiều truyện cổ tích thần kỳ: phép lạ đến khi người tốt đã làm hết sức mà vẫn bị dồn vào đường cùng. Bụt không làm thay, Bụt chỉ dạy cách; anh Khoai vẫn phải tự chặt trăm đốt tre, tự vác về, tự đọc câu thần.
"Khắc nhập, khắc xuất" trong lời ăn tiếng nói
Ít câu thần trong truyện cổ tích Việt đi vào lời nói hằng ngày rộng như "khắc nhập, khắc xuất". Người lớn hay đùa với nhau bằng câu ấy khi muốn một việc gì xong ngay, khi gắn lại một món đồ vừa rời ra, hay khi thấy hai người dính nhau như hình với bóng. Trẻ con chơi đùa cũng hô "khắc nhập" để bắt bạn đứng yên. Câu nói ngắn, vần, có hai vế đối nhau, nên dễ nhớ hơn cả tên nhân vật.
Truyện cũng hay được dựng thành tiết mục kể chuyện, kịch ngắn trong các buổi sinh hoạt ở trường mầm non, tiểu học, nhà văn hoá. Trong những buổi như vậy, đoạn phú ông và ông thông gia lần lượt bị dính vào cây tre thường là đoạn khán giả nhỏ tuổi cười to nhất. Người dựng tiết mục hay để cả khán phòng cùng hô câu thần, biến người xem thành một phần của câu chuyện.
Với người kể chuyện, đây là một gợi ý hay: truyện nào có câu lặp lại thì để người nghe cùng nói. Cây tre trăm đốt sống lâu một phần vì câu thần ấy được truyền từ miệng người này sang miệng người khác, hết thế hệ này đến thế hệ khác.
Cây tre trong đời sống làng và trong các truyện khác
Cây tre trăm đốt chỉ là một trong nhiều truyện có tre. Biết thêm vài truyện khác giúp người kể nối truyện này với cả một mạch hình ảnh:
- Truyền thuyết Thánh Gióng có chi tiết Gióng nhổ những bụi tre ven đường quật giặc khi roi sắt gãy; nhiều người kể vùng có tre đằng ngà gắn với chi tiết này.
- Truyện cây nêu kể người dựng cây tre treo áo cà sa để giành đất với quỷ.
- Trong ca dao, tục ngữ, tre xuất hiện ở nhiều câu nói về nết người, về làng, như "tre già măng mọc" nói chuyện thế hệ sau nối thế hệ trước.
- Trong đời sống, tre là vật liệu làm nhà, làm đồ dùng, làm luỹ chắn gió, chắn giặc, nên được nhiều nhà văn gọi là người bạn của nông dân.
- Về thực vật, tre thuộc họ Hoà thảo, cùng họ với lúa và cỏ, thân rỗng chia đốt, mọc thành bụi từ thân ngầm, có loài lớn rất nhanh trong mùa măng.
Khi kể cho trẻ, bạn có thể mang theo một đoạn tre thật có vài đốt, để trẻ đếm mắt tre, sờ vào chỗ thân rỗng. Trẻ sẽ hiểu ngay vì sao một cây tre trăm đốt là chuyện phải đi khắp rừng mới hy vọng tìm được.
Kể truyện cây tre trăm đốt cho trẻ
Đây là truyện rất hợp để kể có tương tác, vì có câu thần lặp đi lặp lại. Một cách kể nhiều giáo viên mầm non hay dùng:
- Giới thiệu anh Khoai bằng vài chi tiết dễ hình dung: dậy sớm, cày ruộng, gánh nước.
- Kể lời hứa của phú ông chậm và rõ, để trẻ nhớ: làm ba năm thì được cưới con gái.
- Ở đoạn tìm tre, cho trẻ đếm cùng: một đốt, hai đốt, ba đốt, rồi kêu "không đủ rồi".
- Khi Bụt hiện lên, dạy trẻ câu "khắc nhập, khắc nhập" và để trẻ đọc to cùng anh Khoai.
- Đến đoạn phú ông bị dính, mỗi lần có người chạy lại, cả lớp cùng hô "khắc nhập". Trẻ sẽ cười rất vui.
- Kết bằng "khắc xuất", phú ông được thả, Khoai cưới vợ. Hỏi trẻ: hứa mà không làm thì có được không?
Bạn có thể chuẩn bị vài ống hút hoặc đoạn giấy cuộn làm đốt tre, cho trẻ nối lại khi đọc "khắc nhập". Trò chuyện sau khi kể nên xoay quanh việc giữ lời hứa, thay vì phép thần.
Câu hỏi thường gặp
Truyện cây tre trăm đốt có phải truyện cổ tích Việt Nam không?
Đúng, đây là truyện cổ tích thần kỳ của Việt Nam, được nhiều nhà sưu tầm ghi lại từ lời kể dân gian. Truyện có mặt trong nhiều tuyển tập truyện cổ tích và sách đọc cho thiếu nhi, mỗi bản có vài chi tiết khác nhau.
Khắc nhập, khắc xuất nghĩa là gì?
Khắc theo nghĩa Hán Việt là lập tức, tức thì; nhập là vào, liền lại; xuất là ra, tách rời. Câu khắc nhập là lệnh cho đồ vật liền vào ngay, còn khắc xuất là lệnh cho đồ vật rời ra ngay. Đây là câu thần Bụt dạy anh Khoai.
Có cây tre nào thật sự có trăm đốt không?
Số đốt trên thân tre khác nhau tuỳ loài và tuỳ độ cao của cây. Truyện dùng con số một trăm như một hình ảnh phóng đại, ý nói thứ rất khó tìm, chứ không nhằm khẳng định ngoài đời có hay không có cây tre như vậy.
Truyện cây tre trăm đốt muốn dạy điều gì?
Truyện dạy rằng đã hứa thì phải giữ lời, và người lao động thật thà xứng đáng được đối xử công bằng. Truyện cũng cho thấy kẻ bội tín sẽ bị bẽ mặt. Với trẻ nhỏ, bài học giữ lời hứa là điều dễ hiểu nhất.
Kể truyện cây tre trăm đốt cho trẻ mấy tuổi?
Truyện hợp với trẻ từ khoảng bốn tuổi trở lên, vì có câu thần lặp lại dễ thuộc và đoạn phú ông bị dính rất vui. Trẻ tiểu học có thể bàn thêm về lời hứa và sự công bằng.
Vì sao trong truyện người giúp anh Khoai là Bụt?
Trong truyện cổ tích Việt, Bụt là nhân vật hiền từ hay hiện ra giúp người tốt khi họ bế tắc, như trong Tấm Cám. Hình ảnh Bụt gần với ông tiên trong cổ tích hơn là theo nghĩa giáo lý nhà Phật.