Về thực vật, tre và trúc đều thuộc nhóm tre trúc trong họ Hoà thảo, không có ranh giới khoa học rõ ràng giữa "tre" và "trúc". Trong tiếng Việt đời thường, "tre" chỉ các loài thân to, vách dày, mọc thành bụi lớn, thường có gai, dùng làm nhà và làm luỹ; còn "trúc" chỉ các loài thân nhỏ, lóng dài, vách mỏng, ít gai, dùng làm sáo, làm cần câu, trồng làm cảnh. Còn trong chữ Hán, một chữ "trúc" dùng chung cho mọi loài tre.
Vì thế khi văn chương nhà nho nói "trúc", họ đang dùng một chữ Hán Việt có cả bề dày điển tích Trung Hoa; còn khi ca dao nói "tre", đó là tiếng thuần Việt gắn với luỹ làng, đòn gánh, cái rổ. Hai chữ chỉ hai cây gần như cùng loại, nhưng mang hai lớp nghĩa văn hoá khác nhau. Bài này giải thích sự khác biệt ấy, kèm những cây mang tên "trúc" mà thực ra không phải tre.
Phân biệt tre và trúc trong cách dùng tiếng Việt
Bảng dưới không phải phân loại khoa học, mà là cách người Việt quen gọi. Ở mỗi vùng có thể có ngoại lệ.
| Tiêu chí | Tre (cách gọi quen) | Trúc (cách gọi quen) |
|---|---|---|
| Dáng thân | To, thô, vách dày, đốt nổi rõ | Nhỏ, thanh mảnh, vách mỏng, lóng dài |
| Cách mọc | Bụi dày, có giống nhiều gai, làm luỹ chắn | Bụi thưa hơn hoặc mọc rải, ít gai |
| Công dụng chính | Làm nhà, đòn gánh, đan rổ rá, cọc rào | Làm sáo, cần câu, mành, đồ mỹ nghệ, cây cảnh |
| Chỗ thường gặp | Bờ luỹ quanh làng, bờ ao, ven đê | Vườn nhà, sân chùa, sân nhà thờ họ, chậu cảnh |
| Lớp nghĩa văn hoá | Người nông dân, cộng đồng làng, sự bền bỉ | Người quân tử, thú nhàn, cảnh ẩn dật |
| Ngôn ngữ | Tiếng thuần Việt, gặp nhiều trong ca dao | Chữ Hán Việt, gặp nhiều trong thơ chữ Hán, thơ Nôm |
Vì không có ranh giới khoa học, bạn sẽ gặp những loài người miền này gọi là tre, người miền kia gọi là trúc. Điều đó bình thường. Trong văn bản cần chính xác, người ta gọi tên loài cụ thể như tre gai, tre đằng ngà, trúc sào, trúc cần câu thay vì chỉ nói tre hay trúc.
Chữ trúc trong Hán văn: một chữ cho mọi loài tre
Trong chữ Hán, chữ trúc vẽ hình hai cành lá rủ xuống, và nó là bộ thủ của rất nhiều chữ chỉ đồ vật làm từ tre: sách thẻ, bút, rổ, sáo, đũa. Điều này cho thấy ở Trung Hoa cổ, tre gắn với văn tự và đồ dùng từ rất sớm; trước khi giấy phổ biến, người ta viết lên thanh tre ghép lại thành thẻ.
Người Việt học chữ Hán tiếp nhận chữ trúc kèm toàn bộ điển tích của nó. Vì thế trong thơ chữ Hán và thơ Nôm của các nhà nho, gần như không có chữ "tre"; cây ấy luôn được gọi là trúc, kể cả khi người viết đang tả khóm tre ngay ngoài ngõ. Đây là chuyện chọn từ theo thể loại: thơ bác học dùng từ Hán Việt, ca dao dùng tiếng nói hằng ngày.
Hiểu điều này, bạn sẽ không ngạc nhiên khi đọc "ngõ trúc" trong thơ một nhà nho sống ở làng Bắc Bộ. Rất có thể đó là một ngõ tre bình thường, được gọi bằng chữ trúc để mang theo tất cả lớp nghĩa thanh nhã của nó.
Trúc trong thơ văn: những câu đáng nhớ
Tô Đông Pha và câu thà không có thịt. Nhà thơ đời Tống Tô Thức có câu thơ ý rằng thà ăn không có thịt, chứ ở không thể không có trúc; không thịt thì người gầy, không trúc thì người tục. Câu này thành châm ngôn của người yêu trúc, nói rằng sống giữa cái đẹp thanh cao quan trọng ngang với no đủ.
"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo". Câu trong bài "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến là một trong những câu thơ có chữ trúc quen thuộc nhất với người Việt. Ngõ trúc ở đây vừa là cảnh thật làng quê, vừa gợi cảnh sống ẩn của một nhà nho đã từ quan.
Côn Sơn của Nguyễn Trãi. Bài "Côn Sơn ca" của Nguyễn Trãi, qua bản dịch thơ quen thuộc trong sách giáo khoa, có hình ảnh ngồi trong rừng trúc râm mát mà ngâm thơ nhàn. Trúc cùng thông, đá, suối tạo thành khung cảnh lý tưởng của người tìm về thiên nhiên.
"Trúc xinh trúc mọc đầu đình". Đây là câu mở của bài quan họ "Trúc xinh" nổi tiếng. Điều thú vị là ở đây chữ trúc đi vào dân ca, không còn là chữ của nhà nho nữa, mà là hình ảnh một cây thanh mảnh đứng đầu đình để so với cô gái đẹp đứng một mình.
Trúc trong tên một dòng thiền. Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông khai lập ở Yên Tử mang chữ trúc trong tên. Muốn hiểu ý nghĩa tên gọi và giáo lý của dòng thiền này, bạn nên tìm sách chuyên khảo hoặc hỏi chư tăng.
Những cây mang tên "trúc" mà không phải tre
Tiếng Việt có thói quen đặt tên cây theo dáng lá hay dáng thân, nên có nhiều cây mang chữ trúc nhưng hoàn toàn không thuộc nhóm tre. Một vài trường hợp hay nhầm:
- Trúc đào: cây bụi hoa hồng, trắng hay đỏ, lá dài hẹp, hay trồng dọc đường. Đây là loài có nhựa độc với người và gia súc; nhà có trẻ nhỏ cần lưu ý không để trẻ nhai lá, hoa.
- Trúc nhật: cây cảnh lá đốm trồng chậu, thuộc nhóm phát tài, không phải tre; tên gọi đến từ dáng thân có đốt.
- Trúc phát tài, trúc phú quý: những cây thân xanh có đốt cắm trong bình nước, uốn xoắn hoặc buộc thành tháp. Chúng cũng thuộc nhóm phát tài chứ không phải tre; tên "trúc" là tên thương mại.
- Trúc mây: tên gọi một số loài thuộc họ cau có dáng thân giống trúc, trồng làm cảnh.
Khi nghe một cái tên có chữ trúc, bạn nên hỏi tên khoa học hoặc nhìn kỹ: tre thật có thân gỗ rỗng chia đốt, lá có cuống ngắn mọc thành chùm ở đầu cành nhỏ. Những tên gọi kèm lời hứa về tài lộc đã có danh mục riêng để giải thích nguồn gốc.
Nhận ra tre, trúc khi đi thực địa
Nếu bạn là hướng dẫn viên, giáo viên dẫn học sinh về làng hay đơn giản là người tò mò, vài bước quan sát dưới đây giúp bạn gọi tên một khóm tre trúc gần đúng hơn, trước khi hỏi người địa phương:
- Nhìn đường kính thân và độ dày vách nếu có đoạn thân đã chặt: vách dày, thân to bằng cổ tay trở lên thường là các loài người ta gọi là tre.
- Nhìn khoảng cách giữa hai đốt: lóng dài, đều, nhẵn là đặc điểm của những loài thường được gọi là trúc và được chọn làm sáo, làm cần câu.
- Tìm gai ở các mắt cành dưới thấp: tre gai trồng làm luỹ có cành gai đan dày, người làng dùng chính điều này để chắn trộm cướp xưa kia.
- Quan sát cách mọc: bụi rất dày, nhiều thân chen sát gốc là kiểu mọc cụm; thân mọc rải, cách nhau xa là kiểu mọc tản bằng thân ngầm.
- Nhìn bẹ mo ở măng và đốt non: màu sắc, lông phủ, hình dạng bẹ là thứ các nhà thực vật dùng để định loài, nhưng cần kinh nghiệm.
- Hỏi người địa phương tên gọi và công dụng: người làng biết rõ giống nào để làm nhà, giống nào để đan, giống nào cho măng ngon. Ghi lại tên địa phương kèm vùng, vì cùng một tên có thể chỉ hai loài ở hai nơi.
Sau vài lần quan sát, bạn sẽ thấy cách phân biệt tre trúc của người Việt thực chất xoay quanh câu hỏi cây ấy dùng vào việc gì. Đó cũng là gốc của mọi lớp nghĩa văn hoá đặt lên hai chữ.
Vì sao văn hoá cần cả tre lẫn trúc
Có thể nghĩ về tre và trúc như hai giọng nói của cùng một nền văn hoá. Tre là giọng của làng, của lao động, của tập thể. Trúc là giọng của người đọc sách, của thú nhàn, của cá nhân giữ mình. Văn hoá Việt truyền thống có cả hai tầng ấy, và chúng không tách rời: nhà nho sống trong làng, đi ngõ tre mà viết chữ trúc.
Cặp đôi này còn cho thấy cách người Việt tiếp nhận văn hoá Trung Hoa. Ta mượn chữ trúc cùng điển tích, nhưng cây mà ta nhìn mỗi ngày vẫn là tre bản địa, và tiếng nói hằng ngày vẫn gọi nó bằng tên của mình. Lớp nghĩa mượn và lớp nghĩa bản địa chồng lên nhau, tạo ra những câu như "Trúc xinh trúc mọc đầu đình", nơi chữ Hán Việt đã thành dân ca.
Với người viết nội dung văn hoá, phân biệt tre và trúc giúp tránh lỗi diễn đạt: viết "luỹ trúc bao quanh làng" nghe lạ tai, còn "ngõ tre quanh co" trong một bài bình thơ Nguyễn Khuyến thì làm mất chất văn của nguyên tác. Chọn chữ nào là chọn lớp nghĩa nào.
Sáo trúc và đồ trúc: chỗ tre trúc thành âm thanh, thành nghề
Một trong những sản phẩm làm "trúc" đi vào đời sống người Việt rõ nhất là cây sáo. Sáo trúc cần thân có lóng dài, vách mỏng và đều để âm thanh trong; vì vậy người làm sáo chọn rất kỹ loài và tuổi cây, phơi khô, hơ lửa cho thẳng rồi mới khoét lỗ. Tiếng sáo diều trên đồng, tiếng sáo trúc trong nhạc dân tộc đều gắn với thứ cây thanh mảnh này.
Ở Huế có dòng nghệ thuật trúc chỉ, dùng sợi tre nứa nghiền thành giấy rồi tạo hình ảnh trên đó; cái tên đã nói lên chất liệu. Nhiều làng nghề ở đồng bằng Bắc Bộ làm mành trúc, đũa, quạt, đồ mỹ nghệ từ trúc, bên cạnh những làng làm đồ tre thô hơn như rổ rá, nong nia.
Đi qua những nghề này, bạn thấy ranh giới tre và trúc trong tiếng Việt thực chất là ranh giới công dụng. Thân to bền thì làm nhà, làm đòn; thân thanh mảnh thì làm nhạc cụ, làm đồ tinh. Người thợ là người phân biệt tre trúc giỏi nhất, vì họ phải chọn đúng cây cho đúng việc.
Câu hỏi thường gặp
Tre và trúc có phải cùng một loài không?
Không phải cùng một loài, nhưng cùng thuộc nhóm tre trúc trong họ Hoà thảo, có hàng trăm loài khác nhau. Tiếng Việt gọi loài thân to là tre, loài thân nhỏ thanh là trúc theo thói quen, không theo một tiêu chuẩn khoa học thống nhất.
Vì sao thơ xưa ít khi dùng chữ tre?
Thơ chữ Hán và thơ Nôm bác học ưa từ Hán Việt, nên cây tre luôn được gọi là trúc kèm theo điển tích của nó. Chữ tre là tiếng thuần Việt, xuất hiện nhiều trong ca dao, tục ngữ và văn học hiện đại, nơi người viết muốn gần với lời ăn tiếng nói.
Cây trúc phát tài cắm bình nước có phải là trúc thật không?
Không. Cây này thuộc nhóm phát tài, có thân xanh chia đốt nên được gọi là trúc theo kiểu thương mại. Nó sống được trong nước, còn tre trúc thật cần đất. Tên gọi may mắn đi kèm là lớp nghĩa mới, không phải truyền thống văn hoá về cây trúc.
Trúc đào có độc không?
Có. Trúc đào là loài cây cảnh có nhựa độc, toàn cây đều nên tránh để trẻ nhỏ và vật nuôi nhai phải. Khi cắt tỉa nên đeo găng và rửa tay. Tên cây có chữ trúc vì lá dài hẹp, không liên quan tới tre.
Câu của Tô Đông Pha về trúc có nghĩa gì?
Ý câu ấy là ăn uống thiếu thốn chỉ làm người gầy, còn sống thiếu cái đẹp thanh cao thì người trở nên tầm thường. Trúc ở đây là biểu tượng của nếp sống có văn hoá, không chỉ là một cây trong vườn.
Trồng trúc trước nhà có kiêng gì không?
Về văn hoá, trúc được ưa trồng ở sân nhà, sân chùa vì gợi sự thanh nhã. Về thực tế, rễ trúc cũng bò khá mạnh như tre, nên trồng gần móng nhà hay tường rào cần có chắn rễ. Đó là điều nên cân nhắc hơn các lời đồn kiêng kỵ.