Tùng la hán là loài Podocarpus macrophyllus, cây hạt trần thuộc họ Kim giao, quê vùng nam Nhật Bản và nam Trung Quốc. Cây được gọi là "la hán" vì quả hạt của nó: một hạt tròn màu xanh phủ phấn nằm trên một đế nạc phình to chuyển đỏ tía khi chín, trông như một vị la hán đầu tròn ngồi khoác áo. Tên này là cách đọc Hán Việt của tên chữ Hán la hán tùng, đặt theo đúng hình ảnh ấy.
Dù mang chữ "tùng", cây không phải là thông. Lá dẹt, dài như lá tre nhỏ, khác hẳn lá kim của thông ba lá, thông hai lá ở Đà Lạt. Bài này kể về cái tên, về họ hàng của cây với cây kim giao quen thuộc, về lớp nghĩa của chữ "tùng" và chữ "la hán" trong văn hoá, và vì sao cây được chuộng làm cây thế, cây sân vườn. Bài không bàn chuyện đặt cây ở hướng nào hay hợp tuổi nào.
Quả hạt như một vị la hán ngồi thiền
Tùng la hán là cây khác gốc: cây đực ra những bông phấn dài như con sâu nhỏ, cây cái mới ra hạt. Mỗi hạt gồm hai phần dễ thấy. Phần trên là hạt thật, tròn, cỡ hạt đậu, màu xanh có lớp phấn trắng mờ. Phần dưới là đế hạt, ban đầu xanh, khi chín phình to, mọng, chuyển dần sang đỏ rồi tím sẫm. Đặt cạnh nhau, đế hạt như thân người khoác áo cà sa, còn hạt như cái đầu tròn.
Người xưa ở Trung Hoa nhìn hình ấy mà gọi cây là la hán tùng. La hán (A-la-hán) trong Phật giáo là bậc tu hành đã đạt quả vị theo truyền thống phổ biến; ở các chùa Việt, người đi lễ quen với hình tượng mười tám vị La Hán bày hai bên chánh điện, mỗi vị một dáng, một nét mặt. Hình quả tùng la hán gợi hình một vị ngồi tròn trịa, đầu trọc, khoác áo, nên tên gọi dễ nhớ và mang chút không khí thiền môn.
Đây là lối đặt tên theo hình, giống cách người Việt gọi lưỡi hổ, kim tiền. Điểm khác là tên tùng la hán có từ lâu trong văn hoá Trung Hoa và Nhật Bản, trước khi cây trở thành hàng cây cảnh; nó không phải tên thương mại mới đặt. Muốn hiểu thêm về ý nghĩa của hình tượng La Hán trong Phật giáo, bạn nên hỏi chư tăng hoặc đọc sách của các nhà nghiên cứu Phật học.
Không phải thông: phân biệt các cây mang tên tùng
Chữ "tùng" trong tiếng Việt được dùng rất lỏng cho nhiều cây hạt trần thường xanh. Bảng dưới gom những cây hay gặp nhất ở vườn nhà, công viên, nghĩa trang.
| Tên hay gọi | Nhận biết nhanh | Thuộc nhóm nào |
|---|---|---|
| Tùng la hán | Lá dẹt, dài vài phân, mọc xoắn quanh cành; quả hạt trên đế đỏ tía | Họ Kim giao, Podocarpus macrophyllus |
| Thông ba lá, thông hai lá | Lá kim dài, mọc thành bó; quả nón gỗ | Họ Thông, chi Pinus; thông thật |
| Tùng bách tán | Cành mọc thành tầng ngang đều như chiếc ô xếp chồng | Họ Bách tán, chi Araucaria |
| Tùng tháp, tùng xà, tùng thơm | Lá vảy nhỏ ôm cành, cây dáng ngọn lửa hoặc cành xoắn | Các cây họ Hoàng đàn, chi Juniperus, Platycladus… |
| Kim giao | Lá to bản, dày, không có gân giữa nổi, nhiều gân song song | Họ Kim giao, họ hàng gần của tùng la hán |
Thấy được sự khác nhau này giúp đọc đúng thơ văn cổ. Chữ tùng trong câu sách Luận Ngữ nói rằng trời rét rồi mới biết tùng bách là cây tàn lá sau cùng, hay trong bộ "tuế hàn tam hữu" (tùng, trúc, mai) của hội hoạ, chỉ các cây thông, bách vùng lạnh phương Bắc, không phải tùng la hán. Tên tùng la hán mượn lớp nghĩa thanh cao, bền bỉ ấy cho một cây có dáng tương tự.
Họ Kim giao và đôi đũa kim giao
Ở Việt Nam, người ta biết đến họ hàng của tùng la hán qua cây kim giao, một cây gỗ quý mọc trên núi đá vôi, lá to bản, gân song song, trông giống lá tre hơn lá thông. Gỗ kim giao từng được dùng làm đũa trong cung đình và nhà quyền quý. Tương truyền đũa kim giao đổi màu khi gặp thức ăn có độc, nên được dùng để thử; đây là một lời kể dân gian lưu truyền rộng, chưa thấy kiểm chứng khoa học nào, và ngày nay không nên tin vào đôi đũa để phát hiện chất độc.
Kim giao và tùng la hán cùng thuộc họ Kim giao (Podocarpaceae), một họ cây hạt trần phân bố chủ yếu ở bán cầu nam và vùng nhiệt đới châu Á. Cây trong họ thường có lá dẹt, rộng hơn lá kim, và hạt nằm trên một đế nạc có màu, khác hẳn kiểu quả nón gỗ của họ Thông. Các loài kim giao hoang dã ở Việt Nam là cây cần được bảo tồn; phần pháp lý, bảo tồn thuộc về các chuyên trang về cây quý.
Nhắc đến kim giao để thấy tùng la hán không phải một cây xa lạ hoàn toàn với rừng Việt: nó có những người họ hàng mọc trên núi đá nước ta, và chính họ hàng ấy cũng mang theo một lớp chuyện kể riêng trong văn hoá Việt.
Vì sao tùng la hán được chuộng làm cây thế, cây sân vườn
Chịu cắt tỉa tốt. Cây ra chồi lại đều sau khi cắt, lá nhỏ, mọc dày, nên dễ tạo thành tán tròn, tán tầng, dáng trực, dáng hoành. Người chơi cây thế Việt Nam tạo nhiều dáng truyền thống từ tùng la hán.
Sống lâu, lớn chậm. Cây sống được rất lâu và lớn chậm, nên một chậu tùng nhiều năm tuổi trông có vẻ cổ kính, hợp với ý niệm trường tồn mà chữ "tùng" mang theo.
Xanh quanh năm, ít rụng lá. Là cây hạt trần thường xanh, tùng la hán giữ màu lá đậm quanh năm, sân vườn không phải quét nhiều như cây rụng lá.
Chịu được nhiều điều kiện. Ở Nhật Bản, cây được trồng làm hàng rào chắn gió ở vùng ven biển; ở Việt Nam, cây sống được cả miền Bắc có mùa đông lạnh lẫn miền Nam nắng nóng.
Tên gợi không khí thiền. Tên la hán khiến cây hay được trồng ở sân chùa, sân nhà thờ họ, khuôn viên nhà có không gian tĩnh. Đây là lựa chọn thẩm mỹ, không phải quy định của nhà chùa hay của phong thủy.
Tên các thế cây và lớp nghĩa trên dáng tùng
Người chơi cây thế ở Việt Nam đặt tên cho dáng cây theo một hệ thống riêng, và tùng la hán là một trong những cây được uốn theo hệ thống ấy nhiều nhất. Thế trực là thân đứng thẳng, ngọn vươn lên; thế hoành là thân vươn ngang sang một bên; thế huyền là thân đổ xuống thấp hơn miệng chậu như cây mọc vách đá; thế xiêu là thân nghiêng như trước gió. Những tên ấy mô tả hình, nhưng người chơi còn đọc vào đó tính cách: dáng trực gợi sự ngay thẳng, dáng huyền gợi sự kiên cường bám trụ.
Có những thế mang ý nghĩa gia đình, như thế phu thê với hai thân chung một gốc, thế mẫu tử với một thân lớn và một thân nhỏ bên cạnh, thế tam đa với ba thân tượng trưng phúc, lộc, thọ. Tùng la hán, với lá nhỏ, chịu cắt tỉa và sống lâu, rất hợp để tạo những thế đòi hỏi nhiều năm uốn nắn ấy. Tán tầng của tùng thì hay được ví với những tầng mây hay tầng tháp.
Lớp nghĩa này là của người chơi cây, được truyền qua các cuộc thi, các nhà vườn, sách cây cảnh; nó gắn với thẩm mỹ và giá trị đạo đức truyền thống hơn là với chuyện tài lộc. Khi ngắm một cây tùng la hán thế ở sân đình hay hội chợ cây cảnh, đọc được tên thế và ý người uốn gửi vào sẽ thấy cây thú vị hơn nhiều so với một tấm thẻ ghi "cây phong thủy trấn trạch".
Quả tùng la hán có ăn được không
Ở một số nơi tại Nhật Bản, Trung Quốc, có ghi chép rằng phần đế nạc chín màu tím được trẻ con hái ăn vì có vị ngọt nhẹ. Tuy vậy, phần hạt và các bộ phận khác của cây được nhiều tài liệu xếp vào loại không nên ăn, và các danh mục cây độc dành cho thú cưng xếp Podocarpus macrophyllus vào nhóm gây hại cho chó mèo, có thể gây nôn, tiêu chảy khi nhai nuốt.
Vì ranh giới giữa phần "có thể ăn" và phần "không nên ăn" nằm ngay trên cùng một quả, lại khó phân biệt với trẻ nhỏ, lời khuyên an toàn nhất là không ăn và không cho trẻ hái ăn. Nếu nhà có chó hay gặm đồ rơi dưới đất, mùa cây cái chín quả nên nhặt bớt quả rụng.
Ngoài ra, không có căn cứ y học nào cho các bài thuốc dân gian dùng lá, quả tùng la hán mà đôi khi thấy chép trên mạng. Cây là cây cảnh; giá trị của nó nằm ở dáng, ở màu lá và ở câu chuyện về cái tên.
Giữ lại điều đẹp trong cái tên
Tùng la hán là một trong những cây mà tên gọi có chiều sâu văn hoá thật: chữ "tùng" mang theo cả truyền thống thi ca về sự bền bỉ, chữ "la hán" mang theo hình ảnh thiền môn quen thuộc với người đi chùa. Nhiều gia đình trồng một cây tùng la hán trước sân như một cách đặt vào khu vườn chút tĩnh tại.
Những lời rao như "tùng la hán trấn trạch", "giữ của", "thu hút quý nhân" thì nên đọc như một kiểu nói của người bán cây. Cây không cần những lời ấy để đẹp. Một cây tùng được cắt tỉa cẩn thận nhiều năm đã nói lên sự kiên nhẫn của người chăm nó, và đó là điều đáng quý nhất.
Nếu bạn đang chọn một cây cho sân nhà thờ họ hay sân vườn, hãy nghĩ đến kích thước cây khi trưởng thành, rễ có ảnh hưởng tới nền, móng không, có trẻ nhỏ hay vật nuôi hay nhặt quả không. Những người muốn tìm chậu gốm, đôn đá cho cây thế có thể xem thêm vật phẩm trên Vật Phẩm Phong Thủy.
Câu hỏi thường gặp
Tùng la hán có phải là cây thông không?
Không. Tùng la hán thuộc họ Kim giao, lá dẹt dài như lá tre nhỏ, hạt nằm trên đế nạc màu đỏ tía. Thông thuộc họ Thông, lá kim mọc thành bó, quả là nón gỗ. Chữ "tùng" trong tiếng Việt được dùng cho nhiều cây hạt trần khác nhau.
Vì sao gọi là la hán?
Vì quả hạt của cây gồm một hạt tròn xanh nằm trên đế nạc phình to màu đỏ tía, trông như một vị la hán đầu tròn ngồi khoác áo. Tên la hán tùng có từ lâu trong văn hoá Trung Hoa và Nhật Bản, người Việt đọc theo âm Hán Việt.
Cây tùng la hán nào cũng có quả không?
Không. Tùng la hán là cây khác gốc, chỉ cây cái mới ra hạt; cây đực ra những bông phấn dài. Cây thế cắt tỉa thường xuyên cũng ít ra quả. Vì vậy nhiều người trồng nhiều năm mà chưa thấy quả.
Tùng la hán có độc với chó mèo không?
Các danh mục cây độc dành cho thú cưng xếp Podocarpus macrophyllus vào nhóm gây hại cho chó mèo, có thể gây nôn, tiêu chảy khi nhai nuốt lá, hạt. Mùa quả chín nên nhặt quả rụng nếu nhà có chó hay gặm đồ dưới đất.
Kim giao và tùng la hán có liên quan gì?
Cả hai cùng thuộc họ Kim giao, một họ cây hạt trần có lá dẹt rộng và hạt nằm trên đế nạc. Kim giao là cây gỗ quý mọc trên núi đá vôi Việt Nam, gắn với lời kể dân gian về đũa kim giao thử độc.
Chữ tùng trong thơ văn cổ có phải chỉ tùng la hán không?
Thường là không. Chữ tùng trong sách Luận Ngữ hay trong bộ tuế hàn tam hữu chỉ các cây thông, bách của vùng lạnh phương Bắc. Tùng la hán mượn lớp nghĩa bền bỉ, thanh cao ấy qua chữ tùng trong tên gọi.