Sân đình làng Bắc Bộ hay có cây đa, cây đề, cây muỗm, đôi khi cây gạo hay cây si, vì ba lý do cùng lúc: đình là nơi cả làng tụ họp nên cần bóng mát lớn và lâu năm; cây to làm mốc nhận diện cho cả một cộng đồng; và theo quan niệm dân gian, cây sống lâu bên nơi thờ Thành hoàng cũng được coi là một phần của chốn thiêng. Không có quy định nào bắt đình phải trồng loài nào. Phần lớn cây trong sân đình là do các thế hệ trước chọn theo điều kiện đất, theo thói quen vùng và theo việc làng cần.
Bài này đi qua từng lớp lý do ấy: công năng của cây trong sinh hoạt đình, vị trí cây thường đứng, vì sao các loài thân gỗ lớn sống lâu được ưa hơn cây hoa, cây trong ca dao về đình làng, và khi làng muốn trồng thêm hay thay cây thì nên nghĩ gì. Chuyện thần cây và miếu nhỏ dưới gốc thuộc về một câu hỏi khác; ở đây chỉ nói về cây như một phần của không gian đình.
Đình làng cần bóng cây vì đình là nơi đông người
Đình làng truyền thống vừa là nơi thờ Thành hoàng, vừa là nơi làng họp việc, xử kiện theo lệ cũ, mở hội, tổ chức chiếu chèo, chia phần, khao vọng. Mùa hè Bắc Bộ nắng gắt, mà phần lớn những sinh hoạt ấy diễn ra ngoài sân lát gạch. Một sân gạch trần dưới nắng trưa nóng hầm hập, trong khi một tán đa hay tán muỗm đã thành thục có thể che cả một góc sân rộng. Người làng ngồi dưới gốc cây chờ đến lượt vào lễ, trẻ con chơi đùa, người bán hàng nước dựng quán tạm ngày hội đều cần chỗ ấy.
Bóng cây còn giúp chính toà đình. Gỗ, ngói và tường gạch trong bóng râm ít bị nắng nung, sân đỡ bị nứt do giãn nở. Ở nhiều làng, cây lớn đứng chếch về phía tây hoặc phía có nắng chiều, che bớt cái nắng xiên vào hiên. Đó không phải công thức chung, nhưng là cách nhiều thế hệ thợ và các cụ trong làng chọn chỗ trồng sao cho tiện. Nhìn kỹ những sân đình còn giữ cây cũ, bạn sẽ thấy cây hiếm khi mọc ngay trước cửa giữa, mà thường ở góc sân, bên cạnh nghi môn hoặc gần ao đình, để không che lối rước và không đổ lá vào gian thờ.
Một lý do ít được nói đến là thời gian. Đình là công trình cả làng góp sức xây, dự tính dùng nhiều đời. Cây trồng cho đình vì thế cũng nên là cây sống lâu, càng già càng đẹp, chứ không phải cây hoa vài năm phải thay. Đa, đề, muỗm, gạo đều là cây thân gỗ lớn, có thể đứng cả trăm năm nếu được để yên.
Những loài hay gặp trong sân đình và lý do được chọn
Cây đa. Rễ phụ buông xuống thành nhiều trụ, tán rộng, xanh gần như quanh năm. Đa mọc khoẻ trên đất làng Bắc Bộ, ít phải chăm, và càng già càng có dáng. Trong trí nhớ nhiều người, hình ảnh cây đa gần như đi liền với đình làng, đến mức thành một cụm từ cố định.
Cây đề. Họ hàng gần với đa, lá hình tim có đuôi nhọn dài. Ở nhiều làng, đề trồng cạnh đa tạo thành cặp. Vì cây bồ đề gắn với nhà Phật, một số nơi người ta chuộng trồng đề ở chùa hơn là ở đình, nhưng cũng có làng trồng đề ở sân đình từ lâu.
Cây muỗm. Thuộc họ xoài, thân thẳng, tán dày, gỗ chắc. Muỗm hay gặp ở các đình, chùa và di tích vùng đồng bằng sông Hồng, đứng thành hàng hoặc thành cặp hai bên sân. Quả muỗm nhỏ, chua, có mùi riêng, trẻ con trong làng hay nhặt.
Cây gạo. Thân cao, có gai khi còn non, tháng ba nở hoa đỏ rực trước khi ra lá. Cây gạo thường đứng ở đầu làng, đầu đồng hoặc bên bến nước hơn là giữa sân đình, nhưng ở nhiều nơi nó đứng ngay cạnh khuôn viên đình.
Cây si, cây sanh. Cùng chi với đa, rễ phụ nhiều, hay mọc bên bờ ao đình. Si và sanh còn được uốn làm cây cảnh, nên ở một số sân đình có những chậu si, sanh thế cổ đặt hai bên hiên.
Cây trong những ngày hội làng
Ngày thường, sân đình khá vắng; ngày hội, sân đình chật kín. Lúc ấy cây trong sân làm nhiều việc hơn hẳn. Gốc cây lớn thành chỗ các cụ ngồi nghỉ sau phần tế lễ, chỗ các bà các mẹ trải chiếu chờ xem hát, chỗ trẻ con trú nắng giữa buổi rước. Ở nhiều làng, cành cây được dùng để treo đèn lồng, treo cờ hội, mắc dây loa; ban tổ chức chọn những cành chắc, xa mái, để vật treo không làm gãy cành hay vướng kiệu.
Không gian dưới tán cây còn là sân khấu tự nhiên. Chiếu chèo, hát quan họ, các cuộc thi dân gian thường được bày ở khoảng sân có bóng mát, để người xem đứng lâu được. Khi lập sơ đồ ngày hội, những người trong ban tổ chức thường lấy cây làm mốc: chỗ này đặt mâm cỗ, chỗ kia đặt chiếu hát, lối rước đi vòng qua gốc đa. Cây vì thế quyết định cả cách làng sắp đặt hội.
Ngày hội cũng là lúc cây chịu nhiều tác động nhất: đông người giẫm lên gốc, hương đèn đặt sát thân, dây điện tạm quấn vào cành. Nhiều làng đã có thói quen sau mỗi kỳ hội đi một vòng gỡ dây, nhặt rác ở gốc, kiểm tra cành bị treo vật nặng. Việc nhỏ ấy giúp cây đi qua hàng chục mùa hội mà vẫn khoẻ, và là cách tôn trọng cây thiết thực hơn nhiều so với kiêng cữ suông.
Đọc vị trí của cây trong khuôn viên đình
Không đình nào giống đình nào, nhưng vị trí cây trong sân thường cho biết khá nhiều về cách làng dùng không gian. Bảng dưới gom những vị trí hay gặp ở các đình làng vùng đồng bằng sông Hồng.
| Vị trí | Loài hay gặp | Ý nghĩa thường được giải thích |
|---|---|---|
| Hai bên nghi môn, cổng đình | Đa, muỗm, đôi cây cùng loài | Đánh dấu lối vào, tạo bóng chỗ người chờ trước khi vào sân |
| Góc sân, bên tả hoặc bên hữu | Đa, đề, gạo | Bóng mát cho sân hội mà không che trục chính dẫn vào gian thờ |
| Bờ ao hoặc giếng đình | Si, sanh, đa, gạo | Cây ưa ẩm, rễ giữ bờ, soi bóng xuống mặt nước trước đình |
| Hàng dọc lối vào từ đường làng | Muỗm, nhãn, sấu | Dẫn lối, che nắng đoạn đường rước kiệu |
| Sau hậu cung | Tre, cây ăn quả, cây bụi | Chắn gió, giữ đất, tạo nền xanh phía sau công trình |
Bảng chỉ là xu hướng quan sát, không phải luật. Một làng ven sông có thể trồng gạo cạnh đình vì gạo ưa đất bãi; một làng vùng đồi lại có thể giữ cây rừng cũ thay vì trồng mới. Khi tìm hiểu một ngôi đình cụ thể, cách tốt nhất vẫn là hỏi các cụ trong ban khánh tiết hoặc ban quản lý di tích xem cây ấy có từ khi nào, do ai trồng.
Gỗ lim làm đình và cây lim quanh đình
Nhiều đình làng Bắc Bộ được dựng bằng gỗ lim, loài gỗ rất nặng, cứng, chịu mối mọt tốt. Cột đình, xà, kẻ, bẩy bằng lim có thể đứng hàng trăm năm nếu mái không dột. Vì thế trong lời kể của nhiều làng, "đình gỗ lim" là niềm tự hào, và một số nơi trồng lim quanh đình như để nhớ gốc gác của chính công trình.
Tuy vậy, cần phân biệt cây lim sống trong sân với gỗ lim làm khung đình. Gỗ làm đình xưa thường được khai thác từ rừng ở vùng trung du, miền núi rồi chở về, chứ không lấy từ cây trong làng. Lim trồng trong sân đình là cây cảnh quan, mọc chậm, phải mấy đời người mới thành cây lớn. Ngày nay gỗ lim tự nhiên thuộc diện được quản lý chặt, nên việc tu bổ đình dùng gỗ gì là chuyện chuyên môn của đơn vị tu bổ di tích, không phải chuyện chặt cây trong sân.
Điều đáng giữ là ý tưởng phía sau: người xưa chọn vật liệu và cây trồng cho đình theo tiêu chí bền lâu. Khi làng bàn trồng thêm cây hôm nay, câu hỏi nên đặt ra cũng vậy: cây này có sống được nhiều chục năm không, rễ có phá nền đình không, lá rụng có làm tắc máng nước mái không, chứ không chỉ là cây nào đẹp, cây nào hợp xu hướng.
Những hiểu lầm hay gặp về cây trong sân đình
Quanh cây đình có nhiều lời truyền miệng. Dưới đây là vài điều hay bị hiểu lệch, đặt cạnh cách giải thích có căn cứ hơn.
- "Đình nào cũng phải có cây đa." Không có lệ bắt buộc. Nhiều đình ở Nam Bộ có cây dầu, cây sao, cây me, cây bàng; nhiều đình miền Trung trồng cây khác hẳn. Cây đa phổ biến ở đình Bắc Bộ vì hợp đất, hợp khí hậu và dễ sống.
- "Cây đình cấm đụng tới, kể cả tỉa cành." Thực tế các làng vẫn tỉa cành khô, cành vươn đè mái. Việc tỉa cẩn thận, đúng cách là để giữ cây và giữ người, không phải phạm vào điều gì.
- "Cây càng to thì đình càng cổ." Cây có thể được trồng sau khi dựng đình, hoặc ngược lại đình được dựng lại bên cây cũ. Tuổi cây và tuổi đình phải xét riêng, theo hồ sơ di tích chứ không đoán bằng mắt.
- "Cây đa ở đình và cây đa ở đầu làng là một." Nhiều làng có cả hai, với vai trò khác nhau: cây đầu làng là mốc ranh giới và chỗ nghỉ chân, cây sân đình gắn với sinh hoạt hội làng.
- "Không được trồng cây mới trong sân đình." Nhiều làng vẫn trồng thêm, nhất là khi cây cũ già yếu. Chỉ là với đình đã xếp hạng di tích thì việc trồng, chặt phải theo ý kiến cơ quan quản lý.
Khi làng muốn trồng thêm cây trong sân đình
Nếu bạn ở trong ban quản lý hay chỉ đơn giản là người làng góp ý, có thể đi theo trình tự sau để việc trồng cây vừa giữ nếp cũ vừa không gây hại cho công trình.
- Hỏi rõ đình đã được xếp hạng di tích cấp nào chưa. Nếu đã xếp hạng, mọi thay đổi cảnh quan cần hỏi ý kiến cơ quan quản lý văn hoá của địa phương trước.
- Xem lại ảnh cũ, hỏi các cụ cao niên trước đây sân đình có những cây gì ở vị trí nào. Trồng lại đúng loài, đúng chỗ cũ thường được làng đồng thuận hơn trồng loài mới.
- Đo khoảng cách từ chỗ định trồng tới móng đình, tường bao, giếng. Cây thân gỗ lớn như đa, đề cần cách xa móng để rễ về sau không nâng nền, nứt tường.
- Tính hướng tán khi cây trưởng thành: không để tán đè lên mái, không che lối rước chính, không mọc vào đường dây điện.
- Chọn cây giống khoẻ, nếu được thì nhân giống từ chính cây cũ của làng để giữ "dòng" cây; nhờ người có chuyên môn về cây xanh hướng dẫn cách trồng và chống gió những năm đầu.
- Ghi lại ngày trồng, người trồng, loài cây vào sổ của đình. Vài chục năm sau, ghi chép ấy giúp thế hệ sau biết cây có từ khi nào thay vì phải đoán.
Việc làm lễ khi trồng cây là tuỳ tục từng làng. Có làng thắp hương báo cáo trong đình rồi mới trồng, có làng không. Đó là chuyện của cộng đồng làng, không có một nghi thức chuẩn chung nào cho mọi nơi.
Câu hỏi thường gặp
Sân đình ở Nam Bộ có giống Bắc Bộ không?
Không giống. Đình Nam Bộ thường có cây dầu, cây sao, cây me, cây bàng, cây da (cách người Nam gọi cây đa) và nhiều loài cây ăn trái quanh khuôn viên. Lý do vẫn là bóng mát và cây hợp đất vùng ấy, chỉ khác danh mục loài theo khí hậu và lịch sử khai phá từng nơi.
Có nên tự ý bẻ cành, hái lá cây đình mang về không?
Nên hỏi người trông coi đình trước. Ở nhiều làng, cây đình được coi là của chung, tự ý bẻ cành dễ làm người làng phật lòng. Với đình là di tích đã xếp hạng, cây còn là một phần cảnh quan được bảo vệ. Muốn có cây giống từ cây đình thì xin phép ban quản lý.
Cây đa sân đình bao nhiêu tuổi thì được gọi là cổ thụ?
Không có ngưỡng tuổi chung trong cách nói dân gian; người làng gọi cây cổ thụ khi cây đã rất lớn và có từ nhiều đời. Muốn biết tuổi cây tương đối chính xác cần chuyên gia lâm nghiệp đánh giá, vì đường kính thân của đa không phản ánh tuổi một cách đơn giản.
Vì sao một số đình có cây đa mọc đè lên cả tường cổng?
Hạt đa thường do chim mang tới, rơi vào kẽ tường, mái cổng rồi nảy mầm. Rễ đa bám theo khe gạch và lớn dần, lâu ngày ôm trọn tường. Cảnh ấy đẹp nhưng làm tường nứt, nên các đơn vị tu bổ thường phải cân nhắc kỹ giữa giữ cây và giữ công trình.
Cây muỗm trong sân đình có phải cây xoài không?
Muỗm cùng họ với xoài nhưng là loài khác: quả nhỏ hơn, vỏ xanh, vị chua và mùi hắc riêng, cây cao lớn hơn nhiều giống xoài trồng lấy quả. Ở đồng bằng sông Hồng, muỗm hay được trồng ở đình, chùa nhờ tán dày và sống lâu.
Làng muốn chặt một cây đình đã chết khô thì cần làm gì?
Trước hết đảm bảo an toàn, khoanh vùng không cho người qua lại dưới cây. Nếu đình đã xếp hạng di tích, báo cho ban quản lý và cơ quan văn hoá địa phương để có ý kiến; việc hạ cây lớn nên thuê đơn vị có thiết bị và kinh nghiệm thay vì để người làng tự trèo chặt.