Một ngôi chùa làng Việt thường có bốn nhóm cây: cây cổ thụ che sân trước (bồ đề, đa, muỗm, đại), cây ăn trái và rau trong vườn sau để nhà chùa tự túc một phần, hoa và cây cảnh quanh lối đi, cùng tre hoặc cây bụi bao quanh làm hàng rào xanh. Riêng khu vườn tháp, nơi đặt tháp mộ các vị sư trụ trì đời trước, thường có cây đại và cây có hoa thơm. Cách bày ấy không do một quy định nào, mà hình thành từ đời sống của nhà chùa qua nhiều thế hệ.
Bài này nhìn khuôn viên chùa như một khu vườn có người ở: ai trồng, trồng để làm gì, vì sao chùa nông thôn khác chùa phố. Những cây gắn với cuộc đời Đức Phật theo kinh điển như vô ưu, bồ đề, sala là một đề tài riêng; ở đây chỉ nhắc khi cần. Mọi giải thích về ý nghĩa giáo lý xin để chư tăng, chư ni nói, bài chỉ kể những gì quan sát được trong đời sống chùa.
Chùa làng là một khu vườn có người sống
Ở nông thôn Bắc Bộ và Trung Bộ, chùa làng xưa thường có ruộng chùa, vườn chùa do làng cúng hoặc do nhà chùa tự khai. Các vị sư, ni sống ở chùa quanh năm, cùng vài chú tiểu và người công quả. Họ cần rau ăn, cần quả để dâng cúng, cần củi, cần lá. Vì thế phần vườn phía sau và hai bên chánh điện của nhiều chùa trông không khác một khu vườn nhà quê: luống rau, giàn mướp, vài gốc mít, gốc nhãn, bụi chuối.
Nếp ấy gắn với tinh thần tự lực trong sinh hoạt thiền môn mà nhiều chùa Việt giữ: người tu tự làm lấy phần lớn việc trong chùa, từ quét sân đến trồng rau. Khi khách đến chùa vào sáng sớm, cảnh một vị sư cầm chổi tre quét lá dưới gốc cây lớn là cảnh rất quen. Cây vì thế không chỉ để ngắm, mà là một phần công việc thường ngày, gắn với lịch thời vụ.
Chùa phố thì khác. Đất chật, khuôn viên thu hẹp, nhiều chùa chỉ còn vài cây cổ thụ trước sân và chậu cảnh ở hiên. Vườn rau, vườn quả gần như mất, thay bằng sân lát đá cho khách thập phương. Sự khác biệt này giải thích vì sao người lớn lên ở thành phố đôi khi bất ngờ khi về một chùa quê thấy cả luống cải, giàn bầu sau chánh điện.
Bốn nhóm cây trong khuôn viên chùa và việc của từng nhóm
Có thể chia cây trong chùa theo công việc mà nó đảm nhận. Bảng dưới gom những loài hay gặp ở chùa làng miền Bắc và miền Trung; chùa Nam Bộ và chùa Khmer có danh mục khác.
| Nhóm | Loài hay gặp | Việc chính |
|---|---|---|
| Cây che sân trước | Bồ đề, đa, muỗm, đại, gạo | Tạo bóng mát cho sân lễ, làm mốc của chùa |
| Cây ăn trái | Mít, nhãn, vải, khế, bưởi, cau, chuối, hồng | Quả dâng cúng, tự túc, chia cho người công quả |
| Hoa và cây hương | Ngâu, ngọc lan, mộc, nhài, sen trong ao | Hương thơm, hoa cúng, cảnh quan lối đi |
| Cây rào và cây chắn | Tre, trúc, ô rô, cây bụi | Rào khuôn viên, chắn gió bấc, giữ đất bờ ao |
| Vườn tháp | Đại, thông, tùng, cây có hoa trắng | Nền xanh tĩnh lặng quanh tháp mộ các đời trụ trì |
Nhìn danh sách sẽ thấy nhiều cây quen thuộc của vườn nhà quê xuất hiện ở chùa. Đó chính là điểm đáng chú ý: chùa làng Việt không tách mình khỏi cảnh quan làng mà mọc lên từ chính nó.
Cây cổ thụ trước sân chùa
Khách đến chùa thường nhớ cây lớn trước sân nhất. Ở chùa làng Bắc Bộ, cây ấy có khi là bồ đề, nhưng cũng rất thường là đa, muỗm, gạo, sau này có cả bàng, xà cừ. Cây bồ đề và cây đại gắn với nhà Phật có những câu chuyện riêng cần kể kỹ; ở đây chỉ cần ghi nhận rằng phần lớn sân chùa làng có ít nhất một cây thân gỗ lớn làm bóng mát và làm mốc nhận diện.
Nhiều cây cổ thụ trước sân chùa vốn là cây của làng từ trước khi chùa được mở rộng, hoặc do các vị trụ trì đời trước trồng. Vì chùa làng thường đứng gần đình, gần ao làng, cây trước sân chùa và cây quanh đình nhiều khi cùng một lứa, cùng một loài, tạo thành một cụm xanh ở trung tâm làng. Đứng từ cánh đồng nhìn vào, người ta thấy cụm cây ấy trước khi thấy mái chùa.
Cây che sân chùa thường được chăm kỹ hơn cây vườn sau. Nhà chùa quét lá hằng ngày, đắp gốc, xây bồn bao quanh để khách không giẫm lên rễ. Nhiều cây có ghế đá xung quanh để người già ngồi nghỉ sau buổi lễ. Bồn xây quá sát gốc lại làm rễ ngộp, nên khi tu sửa, các chùa nay thường nới rộng bồn và lát gạch thoáng thay vì đổ bê tông.
Vì sao chùa trồng cây ăn trái
Quả để dâng cúng. Mâm quả trên bàn Phật ngày rằm, mồng một có khi lấy từ vườn chùa: nải chuối, chùm nhãn, quả bưởi. Với chùa quê, đó là cách đơn giản và tiết kiệm.
Tự túc một phần đời sống. Rau, quả trong vườn giúp nhà chùa bớt phụ thuộc vào chợ. Một số chùa còn nuôi ong lấy mật hoặc làm tương, muối dưa từ chính vườn rau của mình.
Chia sẻ với người trong làng. Mùa mít, mùa nhãn, nhiều chùa chia quả cho người công quả, cho trẻ con trong xóm, cho người già đến lễ. Cây ăn trái trong chùa vì thế gắn với sự gần gũi giữa nhà chùa và làng.
Cây hợp đất, dễ sống. Mít, nhãn, vải, khế là cây quen thuộc ở vườn Bắc Bộ, ít phải chăm, sống lâu, có bóng mát. Trồng ở chùa cũng như trồng ở nhà, không cần kỹ thuật cầu kỳ.
Cây cau và tục trầu cau. Nhiều chùa có hàng cau dọc lối vào, vừa đẹp vừa có quả cau dùng trong lễ. Trầu cau gắn với lễ tục dân gian Việt hơn là với giáo lý nhà Phật, nên cũng là dấu vết của sự hoà quyện giữa chùa và làng.
Hoa trong chùa: hương thơm và hoa cúng
Hoa trong chùa Việt ít khi là hoa sặc sỡ trồng theo mốt. Phổ biến hơn là những loài có hương: ngâu với chùm hoa li ti vàng, thơm nhẹ; ngọc lan, mộc, nhài, hoàng lan; và sen trong ao chùa nếu chùa có ao. Ngâu thường được tỉa thành khối tròn đặt hai bên lối vào hoặc quanh sân, cách làm khá đặc trưng ở đình, chùa, nhà thờ họ Bắc Bộ.
Hoa trong vườn được dùng để cúng Phật. Một số chùa còn ướp trà bằng hoa nhài, hoa ngâu theo lối cũ. Hoa sen là biểu tượng lớn trong nghệ thuật Phật giáo, nhưng ý nghĩa của nó đã được bàn nhiều nơi khác; ở đây chỉ cần biết ao sen là một phần quen thuộc của cảnh quan nhiều chùa vùng đồng bằng.
Cây hoa trong chùa cũng thay đổi theo thời. Những năm gần đây, nhiều chùa trồng thêm hoa giấy, hoa trang, cây cảnh trong chậu do Phật tử cúng dường. Điều này làm sân chùa rực rỡ hơn, nhưng cũng khiến một số người lớn tuổi nhớ cảnh chùa cũ giản dị. Mỗi chùa tự quyết theo điều kiện và ý của vị trụ trì, không có kiểu nào đúng hơn kiểu nào.
Một năm quanh cây trong chùa làng
Theo dõi vườn chùa qua bốn mùa sẽ thấy cây gắn chặt với lịch sinh hoạt của nhà chùa và của làng. Dưới đây là nhịp quen thuộc ở nhiều chùa làng Bắc Bộ, mỗi nơi có thể lệch ít nhiều.
- Mùa xuân: cây đâm lộc, hoa gạo nở đỏ ở những chùa có gạo; sân chùa đông người đi lễ đầu năm nên nhà chùa quét lá, dọn gốc, cắt tỉa ngâu cho gọn trước Tết.
- Đầu hè: vải, nhãn ra quả, mít lớn dần; hoa đại nở nhiều nhất, rụng trắng bậc tháp; nhà chùa hay giữ quả đầu mùa để dâng cúng trong ngày rằm.
- Mùa mưa bão: việc chính là tỉa cành khô, cành vươn đè mái, chống cây non; sau mỗi trận gió lớn phải đi một vòng xem cành gãy, rễ lật.
- Mùa thu: ngâu ra hoa li ti, thơm cả sân; vườn rau gieo lại lứa mới; lá bàng, lá muỗm bắt đầu rụng nhiều.
- Mùa đông: cây rụng lá, nhà chùa gom lá khô ủ làm phân cho vườn, chặt bớt tre già, chuẩn bị đất cho cây trồng bổ sung sau Tết.
Nhịp ấy cho thấy vườn chùa không phải cảnh trí đặt sẵn mà là việc làm quanh năm. Người đi lễ chỉ thấy cây vào ngày rằm, mồng một; người trong chùa thì sống cùng cây mỗi sáng.
Vườn tháp: khu xanh lặng nhất của chùa
Vườn tháp là nơi đặt tháp mộ các vị sư trụ trì qua các đời, thường ở phía sau hoặc một bên chùa. Các tháp có nhiều tầng, xây bằng gạch hoặc đá, rêu phong theo năm tháng. Cây trong vườn tháp được chọn để giữ sự tĩnh lặng: đại với hoa trắng, thông, tùng, một vài cây cổ thụ cho bóng. Ít khi có cây ăn trái hay luống rau trong khu này.
Hoa đại rụng trên bậc tháp là hình ảnh được nhiều nhiếp ảnh gia ghi lại. Người ta hay giải thích cây đại hợp với vườn tháp vì hoa trắng, thơm dịu, cây sống rất lâu và dáng thân cành già cỗi gợi sự trầm mặc. Đó là cách đọc mang tính thẩm mỹ và biểu tượng, phổ biến trong dân gian.
Khi đến vườn tháp, bạn nên giữ trật tự, không trèo lên tháp để chụp ảnh, không bẻ cành đại hay hái hoa. Vườn tháp là nơi tưởng niệm của nhà chùa, tương tự như nghĩa trang của một gia đình. Nếu muốn tìm hiểu tên tuổi các vị sư được thờ ở đây, hãy hỏi nhà chùa, vì nhiều tháp đã mờ chữ và chỉ người trong chùa mới nắm được lai lịch.
Ứng xử với cây trong chùa khi đi lễ
Cây trong chùa là tài sản của nhà chùa và cũng là một phần cảnh quan của cả cộng đồng. Vài điều nhỏ giúp chuyến đi lễ của bạn được trọn vẹn:
- Không tự hái quả trong vườn chùa, kể cả khi quả chín rụng nhiều. Muốn xin thì hỏi người trong chùa.
- Không buộc dây, dán giấy, cắm hương vào thân cây cổ thụ. Hương đốt sát thân cây làm cháy vỏ, lâu ngày cây bị tổn thương.
- Không trèo lên cây để chụp ảnh, không treo võng vào cây khi nhà chùa chưa cho phép.
- Không giẫm vào bồn gốc cây và luống rau. Đất bị nén chặt làm rễ khó thở.
- Nếu thấy cành khô lớn có nguy cơ gãy, báo cho nhà chùa thay vì tự xử lý.
- Muốn cúng dường cây giống cho chùa, hỏi trước vị trụ trì cây gì hợp và trồng ở đâu, để tránh cây được tặng rồi không có chỗ trồng.
Những ai muốn mang về một vật nhỏ làm kỷ niệm có thể xem thêm vật phẩm trên Vật Phẩm Phong Thủy thay vì bẻ cành, nhặt lá ở chùa.
Câu hỏi thường gặp
Vườn chùa có trồng rau ăn như nhà dân không?
Có, ở nhiều chùa làng. Phía sau chánh điện thường có luống rau cải, rau muống, giàn mướp, giàn bầu do các vị sư, ni và người công quả cùng trồng. Rau dùng cho bữa chay hằng ngày của nhà chùa và những dịp đông người đến lễ.
Vì sao vườn tháp ít khi trồng cây ăn trái?
Vườn tháp là nơi tưởng niệm các đời trụ trì, nhà chùa muốn giữ yên tĩnh. Cây ăn trái kéo theo việc hái, nhặt, người qua lại, chim chóc, quả rụng làm bẩn tháp. Vì thế vườn tháp thường chỉ có cây cho bóng và cây có hoa, còn cây ăn trái để ở vườn sau.
Chùa có được trồng cây ăn trái như nhà dân không?
Có, và rất phổ biến ở chùa làng. Vườn chùa thường có mít, nhãn, vải, chuối, cau, rau. Quả dùng dâng cúng, phục vụ sinh hoạt nhà chùa và chia cho người trong làng. Chùa ở đô thị ít đất nên ít còn vườn quả.
Phật tử muốn cúng cây cho chùa nên chọn cây gì?
Nên hỏi vị trụ trì trước. Nhà chùa biết khuôn viên còn chỗ nào, đất ra sao, cây nào đã có. Cây thân gỗ lớn cần chỗ rộng, xa công trình; cây hoa nhỏ dễ bố trí hơn. Một cây được trồng đúng chỗ, có người chăm, có ý nghĩa hơn một cây quý mà không có chỗ đặt.
Chùa Nam Bộ có trồng cây giống chùa Bắc Bộ không?
Không hẳn. Chùa người Việt ở Nam Bộ hay có cây dầu, sao, me, bàng, cây ăn trái miền Nam như xoài, mận, dừa. Chùa Khmer có cảnh quan riêng với những hàng sao, dầu cổ thụ và thốt nốt ở vùng Bảy Núi. Khác biệt chủ yếu do khí hậu và lịch sử khai phá.
Có nên nhặt hoa đại rụng ở chùa mang về?
Hoa đã rụng thường được quét đi, nên nhiều chùa không phiền nếu bạn nhặt vài bông. Tuy vậy, lịch sự nhất vẫn là hỏi người trong chùa một câu. Tránh bẻ hoa trên cành và tránh nhặt ở khu vườn tháp, nơi nhà chùa muốn giữ yên tĩnh.